Bản dịch
BV 12 — Lịch Sử Đức Phật Padumuttara
12. Padumuttarabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Nārada, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân tên Padumuttara là không bị chao động, tương tợ như biển cả.
Inda-bh 2Và đức Phật đã sanh lên vào kiếp Maṇḍa ấy. Chúng sanh đã sanh lên trong kiếp ấy là vô cùng tốt lành.
Inda-bh 3Trong khi đức Thế Tôn Padumuttara thuyết giảng Giáo Pháp lần thứ nhất, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 4Về sau vào lúc khác nữa, trong lúc đổ xuống cơn mưa (Pháp) khiến cho các hạng chúng sanh được hài lòng, đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của ba mươi bảy trăm ngàn koṭi (ba triệu bảy trăm ngàn) vị.
Inda-bh 5Vào thời điểm đấng Đại Hùng đi đến gặp (người cha là) Ānanda, Ngài đã đi đến trong sự hiện diện của người cha và đã gióng lên tiếng trống Bất Tử.
Inda-bh 6Khi tiếng trống Bất Tử đã được gióng lên và trong khi cơn mưa Pháp Bảo đang rơi xuống, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của năm mươi trăm ngàn koṭi (năm triệu) vị.
Inda-bh 7Đức Phật là vị giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, là vị thiện xảo về thuyết giảng; Ngài đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 8Bậc Đạo Sư Padumuttara đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 9Khi đức Phật, vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, cư ngụ ở tại ngọn núi Vebhāra, đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín mươi ngàn koṭi vị.
Inda-bh 10Hơn nữa, trong khi ra đi du hành từ các làng mạc, thị trấn, và quốc độ, đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám mươi ngàn koṭi vị.
Inda-bh 11Vào lúc bấy giờ, ta là vị lãnh chúa tên Jaṭila. Ta đã cúng dường vải cùng với bữa ăn đến hội chúng (tỳ khưu) có bậc Toàn Giác đứng đầu.
Inda-bh 12Đức Phật ấy, ngồi giữa hội chúng, cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong một trăm ngàn kiếp tính từ thời điểm này, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 13Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 14Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 15Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 16Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 17Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 18Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 19Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 20Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 21Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 22Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 23“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 24Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 25Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 26Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã quyết định sự thực hành tối thắng. Ta đã thực hiện sự nỗ lực vô cùng bền bĩ để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 27Khi ấy, tất cả các người ngoại đạo bị ruồng bỏ trở nên hốt hoảng, có tâm trí chán nản. Đối với bọn họ, không còn có người nào phục vụ. Mọi người xua đuổi họ ra khỏi quốc độ.
Inda-bh 28Tất cả đã tụ hội lại tại nơi ấy và đã đi đến gặp đức Phật (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng, ngài là vị lãnh đạo. Hỡi bậc Hữu Nhãn, ngài hãy là chốn nương nhờ.”
Inda-bh 29Bậc có lòng thương xót, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh đã an trú vào năm giới cấm cho tất cả những người ngoại đạo đã đi đến (với Ngài).
Inda-bh 30Như thế, Giáo Pháp đã không bị pha trộn, không còn các ngoại đạo, và được tô điểm bởi các vị A-la-hán ở vào trạng thái thu thúc như thế ấy.
Inda-bh 31Thành phố có tên là Haṁsavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Ānanda, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Padumuttama tên là Sujātā.
Inda-bh 32Vị ấy đã sống ở giữa gia đình mười ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Naravāhana, Yasa, và Yasavatti.
Inda-bh 33Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vasuladattā. Con trai tên là Uttara.
Inda-bh 34Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, bậc Tối Thượng Nhân đã ra đi bằng tòa lâu đài và đã thực hành hạnh nỗ lực bảy ngày.
Inda-bh 35Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Hướng Đạo, đấng Đại Hùng Padumuttara đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở công viên tuyệt vời Mithila.
Inda-bh 36Devala và Sujāta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đạo Sư Padumuttara tên là Sumana.
Inda-bh 37Amitā và luôn cả Asamā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Salala.”
Inda-bh 38Vitiṇṇa và luôn cả Tissa đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Haṭṭhā và luôn cả Vicittā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 39Đạt đến năm mươi tám ratana (14 mét rưỡi) về chiều cao, đấng Đại Hiền Triết với ba mươi hai tướng trạng cao quý tương tợ như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa.
Inda-bh 40Các tường thành, cửa lớn, vách đất, cây cối, mỏm đá ở xung quanh mười hai do-tuần không có che khuất vị ấy.
Inda-bh 41Tuổi thọ được biết là kéo dài đến một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 42Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua, sau khi đã cắt đứt tất cả các điều nghi hoặc, vị ấy đã rực cháy như là khối lửa rồi đã Niết Bàn cùng với các vị Thinh Văn.
Inda-bh 43Đức Phật, đấng Chiến Thắng Padumuttara đã Niết Bàn tại tu viện Nandā. Ngôi bảo tháp cao quý dành cho vị ấy có chiều cao mười hai do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Padumuttara là phần thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Nāradassa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Padumuttaro nāma jino, akkhobho sāgarūpamo.
After Nārada, the Perfectly Enlightened One, supreme among bipeds, the Victor named Padumuttara, imperturbable and like the ocean, arose in the world.
Sau thời đức Phật Nārada, một vị Chánh-Đẳng-Giác, bậc tối thắng giữa các loài hai chân, đã xuất hiện. Ngài là đấng Chánh-biến-tri tên là Padumuttara, không bị lay chuyển, ví như biển cả.
2.
2.
2.
Maṇḍakappova so āsi, yamhi buddho ajāyatha;
Ussannakusalā janatā, tamhi kappe ajāyatha.
That was a Maṇḍa eon in which the Buddha was born; in that eon, a populace arose abounding in wholesome actions.
Kiếp mà đức Phật ấy đản sanh là một kiếp Maṇḍa. Trong kiếp ấy, chúng sanh có nhiều thiện nghiệp dồi dào đã được sanh ra.
3.
3.
3.
Padumuttarassa bhagavato, paṭhame dhammadesane;
Koṭisatasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
At the first Dhamma discourse of the Blessed One Padumuttara, the penetration to the Dhamma occurred for one hundred thousand koṭis of beings.
Trong lần thuyết pháp đầu tiên của đức Thế Tôn Padumuttara, đã có một trăm ngàn ức chư thiên và nhân loại chứng ngộ giáo pháp.
4.
4.
4.
Tato parampi vassante, tappayante ca pāṇine;
Sattatiṃsasatasahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
Then on another occasion, while showering the rain of Dhamma and satisfying living beings, the second penetration to the Dhamma occurred for three million seven hundred thousand beings.
Sau đó, trong một lần khác, khi ngài ban mưa pháp làm thỏa mãn chúng sanh, đã có ba triệu bảy trăm ngàn vị chứng ngộ giáo pháp lần thứ hai.
5.
5.
5.
Yamhi kāle mahāvīro, ānandaṃ upasaṅkami;
Pitusantikaṃ upagantvā, āhanī amatadundubhiṃ.
At the time when the Great Hero approached his father, Ānanda, having gone into his father's presence, he beat the drum of the Deathless.
Vào lúc bậc Đại-hùng đến yết kiến vua cha Ānanda, sau khi đã đến trước mặt phụ vương, ngài đã gióng lên trống pháp bất tử.
6.
6.
6.
Āhate amatabherimhi, vassante dhammavuṭṭhiyā;
Paññāsasatasahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
When the drum of the Deathless was beaten and the rain of Dhamma was showering down, the third penetration to the Dhamma occurred for five million beings.
Khi trống pháp bất tử được gióng lên và mưa pháp được ban xuống, đã có năm triệu vị chứng ngộ giáo pháp lần thứ ba.
7.
7.
7.
Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An exhorter, an instructor, a ferryman for all beings, the Buddha, skilled in teaching, ferried a great populace across.
Đức Phật, bậc khéo léo trong thuyết giảng, là người giáo huấn, người làm cho liễu ngộ, và là người cứu độ tất cả chúng sanh, đã cứu vớt rất nhiều người.
8.
8.
8.
Sannipātā tayo āsuṃ, padumuttarassa satthuno;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo.
There were three assemblies of the taintless ones for the Teacher Padumuttara; the first assembly was of one hundred thousand koṭis.
Đã có ba lần hội họp các vị thánh đệ tử của đức Đạo Sư Padumuttara. Lần hội họp thứ nhất gồm một trăm ngàn ức vị A-la-hán.
9.
9.
9.
Yadā buddho asamasamo, vasi vebhārapabbate;
Navutikoṭisahassānaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
When the Buddha, the equal of the unequalled, dwelt on Mount Vebhāra, the second assembly was of ninety thousand koṭis of Arahants.
Khi đức Phật không ai sánh bằng đang ngự tại núi Vebhāra, đã có lần hội họp thứ hai gồm chín mươi ngàn ức vị A-la-hán.
10.
10.
10.
Puna cārikaṃ pakkante, gāmanigamaraṭṭhato;
Asītikoṭisahassānaṃ, tatiyo āsi samāgamo.
Again, when he set out on tour, the third assembly was of eighty thousand koṭis of Arahants who had gone forth from villages, towns, and countries.
Một lần khác, khi ngài đang du hành qua các làng mạc, thị trấn và quốc độ, đã có lần hội họp thứ ba gồm tám mươi ngàn ức vị A-la-hán.
11.
11.
11.
Ahaṃ tena samayena, jaṭilo nāma raṭṭhiko;
Sambuddhappamukhaṃ saṅghaṃ, sabhattaṃ dussamadāsahaṃ.
At that time, I was a householder named Jaṭila, an inhabitant of the country. I gave cloth for robes, together with food, to the Sangha headed by the Perfectly Enlightened One.
Vào thời ấy, ta là một gia chủ tên là Jaṭila. Ta đã cúng dường y phục cùng với vật thực đến Tăng đoàn do đức Chánh-Đẳng-Giác dẫn đầu.
12.
12.
12.
Sopi maṃ buddho byākāsi, saṅghamajjhe nisīdiya;
‘‘Satasahassito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha, too, sitting in the midst of the Sangha, made a prediction about me: “One hundred thousand eons from now, this one will become a Buddha.”
Vị Phật ấy, khi đang ngồi giữa Tăng chúng, đã thọ ký cho ta rằng: ‘Một trăm ngàn kiếp nữa kể từ nay, người này sẽ thành một vị Phật’.
13.
13.
13.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
“Having undertaken the striving… we shall be in the presence of this one.”
‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn... (vân vân)... chúng con nguyện sẽ được diện kiến ngài’.
14.
14.
14.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, uttariṃ vatamadhiṭṭhahiṃ;
Akāsiṃ uggadaḷhaṃ dhitiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I resolved still further on my vow. I made a keen and firm effort for the fulfillment of the ten perfections.
Nghe lời thọ ký của ngài, ta lại càng quyết tâm thực hành các hạnh nguyện cao hơn. Ta đã nỗ lực mãnh liệt và kiên cố để hoàn thiện mười pháp ba-la-mật.
15.
15.
15.
Byāhatā titthiyā sabbe, vimanā dummanā tadā;
Na tesaṃ keci paricaranti, raṭṭhato nicchubhanti te.
All the sectarians were refuted; then they became dejected and miserable. No one attended to them; they were driven from the country.
Vào lúc ấy, tất cả các người theo ngoại đạo đều bị khuất phục, lòng dạ hoang mang, buồn rầu. Không còn ai phục vụ họ, và họ bị trục xuất khỏi xứ.
16.
16.
16.
Sabbe tattha samāgantvā, upagacchuṃ buddhasantike;
Tuvaṃ nātho mahāvīra, saraṇaṃ hohi cakkhuma.
All of them, having assembled there, approached the Buddha’s presence, saying: “You are our protector, O Great Hero! Be our refuge, O One with Vision!”
Tất cả họ bèn cùng nhau đến yết kiến đức Phật và thưa rằng: ‘Bạch đấng Đại-hùng, Ngài là nơi nương tựa của chúng con. Bạch đấng hữu nhãn, xin hãy là nơi quy y cho chúng con’.
17.
17.
17.
Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi.
The compassionate, caring, well-wisher for all beings established all the sectarians who had come to him in the five precepts.
Đức Thế Tôn, bậc có lòng bi mẫn, thương xót, và mưu cầu hạnh phúc cho tất cả chúng sanh, đã an lập tất cả những người ngoại đạo tìm đến trong năm giới.
18.
18.
18.
Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ titthiyehi taṃ;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādihi.
Thus that Dispensation was untroubled, empty of sectarians, and resplendent with Arahants who had attained mastery, the steadfast ones.
Như vậy, giáo pháp của ngài không bị khuấy nhiễu và không còn bóng dáng của ngoại đạo. Giáo pháp ấy trở nên rực rỡ với các vị A-la-hán, những bậc đã tự tại và như nhiên bất động.
19.
19.
19.
Nagaraṃ haṃsavatī nāma, ānando nāma khattiyo;
Sujātā nāma janikā, padumuttarassa satthuno.
The Teacher Padumuttara’s city was named Haṃsavatī. His father was the khattiya named Ānanda, and his mother was named Sujātā.
Kinh thành của đức Đạo Sư Padumuttara tên là Haṃsavatī. Phụ vương thuộc dòng Sát-đế-lỵ, tên là Ānanda. Mẫu hậu tên là Sujātā.
20.
20.
20.
Dasavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Naravāhano yaso vasavattī †, tayo pāsādamuttamā.
He lived the household life for ten thousand years. Naravāhana, Yasa, and Vasavattī were his three excellent palaces.
Trong mười ngàn năm, ngài đã sống tại gia; Naravāhana, Yasa, và Vasavattī là ba tòa lâu đài tối thượng.
21.
21.
21.
Ticattārīsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vasudattā nāma nārī, uttamo nāma atrajo.
There were forty-three thousand well-adorned women. The chief consort was named Vasudattā, and the son was named Uttama.
Bốn mươi ba ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Hoàng hậu tên là Vasudattā, vương tử tên là Uttama.
22.
22.
22.
Nimitte caturo disvā, pāsādenābhinikkhami;
Sattāhaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo.
Having seen the four signs, the supreme person went forth by way of the palace. For seven days he practiced the great striving.
Bậc Tối Thắng trong loài người, sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đã xuất gia bằng cung điện. Ngài đã thực hành khổ hạnh trong suốt bảy ngày.
23.
23.
23.
Brahmunā yācito santo, padumuttaro vināyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, mithiluyyānamuttame.
Requested by Brahmā, the peaceful Guide Padumuttara, the Great Hero, set the Wheel in motion in the excellent park of Mithilā.
Được Phạm Thiên thỉnh cầu, bậc Thánh, bậc Lãnh Đạo Padumuttara, bậc Đại Anh Hùng, đã chuyển Pháp luân tại khu vườn thượng uyển Mithilā.
24.
24.
24.
Devalo ca sujāto ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Sumano nāmupaṭṭhāko, padumuttarassa mahesino.
Devala and Sujāta were the chief disciples; Sumana was the attendant of the great sage Padumuttara.
Ngài Devala và ngài Sujāta là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Sumana của bậc Đại Sĩ Padumuttara.
25.
25.
25.
Amitā ca asamā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, salaloti pavuccati.
Amitā and Asamā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is said to be a Salala tree.
Ni sư Amitā và ni sư Asamā là hai vị Nữ Thượng thủ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây salaḷa (thông).
26.
26.
26.
Vitiṇṇo ceva † tisso ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Haṭṭhā ceva vicittā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Vitiṇṇa and Tissa were the chief male supporters; Haṭṭhā and Vicittā were the chief female supporters.
Ngài Vitiṇṇa và ngài Tissa là hai vị nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Bà Haṭṭhā và bà Sucittā là hai vị nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
27.
27.
27.
Aṭṭhapaṇṇāsaratanaṃ, accuggato mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, dvattiṃsavaralakkhaṇo.
The great sage was fifty-eight cubits tall, endowed with the thirty-two excellent marks, like a pillar of gold.
Bậc Đại ẩn sĩ cao năm mươi tám hắc tay, giống như cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.
28.
28.
28.
Kuṭṭā kavāṭā bhittī ca, rukkhā nagasiluccayā;
Na tassāvaraṇaṃ atthi, samantā dvādasayojane.
Gate-towers, door-panels, and walls, trees, mountains, and rocky heights—for him there was no obstruction for twelve yojanas all around.
Cổng vòm, cánh cửa, tường vách, cây cối, và núi đá Nāga không phải là vật cản đối với ngài, trong phạm vi mười hai do-tuần khắp xung quanh.
29.
29.
29.
Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan at that time was one hundred thousand years. Remaining for that long, he ferried a great populace across.
Vào lúc ấy, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Trong khi tại thế chừng ấy thời gian, vị ấy đã cứu độ nhiều chúng sanh.
30.
30.
30.
Santāretvā bahujanaṃ, chinditvā sabbasaṃsayaṃ;
Jalitvā aggikkhandhova nibbuto so sasāvako.
Having ferried many beings across and cut off all doubt, blazing like a great mass of fire, he, together with his disciples, attained Parinibbāna.
Sau khi cứu độ nhiều chúng sanh, sau khi cắt đứt tất cả mọi hoài nghi, vị ấy đã tỏa sáng như một khối lửa lớn rồi cùng với các vị Thinh văn nhập Niết-bàn.
31.
31.
31.
Padumuttaro jino buddho, nandārāmamhi nibbuto;
Tatthevassa thūpavaro, dvādasubbedhayojanoti.
The Victor, the Buddha named Padumuttara, attained Parinibbāna in the Nandā Park. In that very place, his excellent stupa was twelve yojanas high.
Bậc Chiến Thắng, đức Phật Padumuttara, đã nhập Niết-bàn tại tu viện Nandārāma. Ngay tại nơi ấy, bảo tháp cao quý của ngài cao mười hai do-tuần.
The tenth chronicle of the Blessed One Padumuttara.
Thiên truyện thứ mười về đức Thế Tôn Padumuttara.