Bản dịch
BV 13 — Lịch Sử Đức Phật Sumedha
13. Sumedhabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Padumuttara, có bậc Lãnh Đạo tên Sumedha là đấng Hiền Triết tối thượng của toàn thể thế giới, có oai lực nỗi bật, khó thể đạt đến.
Inda-bh 2Có cặp mắt an tịnh, khuôn mặt đầy đặn, (thân hình) cao lớn, ngay thẳng, hùng dũng, là người tầm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh, (vị ấy) đã giúp cho nhiều người thoát khỏi sự trói buộc.
Inda-bh 3Khi đã thành tựu toàn vẹn quả vị Giác Ngộ tối thượng, đức Phật đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp ở tại thành phố Sudassana.
Inda-bh 4Trong việc thuyết giảng Giáo Pháp của vị ấy, đã có ba sự lãnh hội. Sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 5Hơn nữa vào lần khác, đấng Chiến Thắng ấy đã thuần phục Dạ-xoa Kumbhakaṇṇa. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhì là của chín chục ngàn koṭi (chín trăm tỷ) vị.
Inda-bh 6Hơn nữa vào lần khác, bậc có danh tiếng vô hạn đã giảng giải về bốn Chân Lý. Đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục ngàn koṭi (tám trăm tỷ) vị.
Inda-bh 7Bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha đã có ba lần tụ hội gồm các vị Lậu Tận không còn ô nhiễm có tâm thanh tịnh như thế ấy.
Inda-bh 8Vào lúc đấng Chiến Thắng ngự đến thành phố Sudassana, khi ấy một trăm koṭi (một tỷ) vị tỳ khưu là các bậc Lậu Tận đã tụ hội lại.
Inda-bh 9Hơn nữa vào lần khác, lúc tiến hành lễ (dâng y) Kaṭhina cho các vị tỳ khưu ở tại Devakūṭa, khi ấy đã có cuộc hội tụ thứ nhì của chín chục koṭi vị.
Inda-bh 10Hơn nữa vào lần khác, lúc đấng Thập Lực đi du hành, khi ấy đã có cuộc hội tụ thứ ba của tám chục koṭi vị.
Inda-bh 11Vào lúc bấy giờ, ta là người thanh niên Bà-la-môn tên Uttara. Tài sản đã được tích lũy trong nhà của ta là tám mươi koṭi (tám trăm triệu).
Inda-bh 12Sau khi đã cúng dường toàn bộ tất cả đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng (tỳ khưu), ta đã đi đến nương nhờ vị ấy và đã hứng thú với việc xuất gia.
Inda-bh 13Trong khi thể hiện sự tùy hỷ (phước báu), đức Phật ấy cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong ba chục ngàn kiếp, người này sẽ trở thành vị Phật.
Inda-bh 14Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 15Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 16Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 17Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 18Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 19Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 20Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 21Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 22Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 23Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 24“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 25Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 26Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 27Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã tăng thêm niềm tín tâm. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 28Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 29Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy vào lúc ngồi, đứng, đi kinh hành, sau khi làm toàn hảo các thắng trí, ta đã đi đến thế giới của Phạm Thiên.
Inda-bh 30Thành phố có tên là Sudassana, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudatta, người mẹ của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha tên là Sudattā.
Inda-bh 31Vị ấy đã sống ở giữa gia đình trong chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Sucandanaka, Koñca, và Sirivaḍḍha.
Inda-bh 32Có ba lần mười sáu ngàn (bốn mươi tám ngàn) phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Sumanā. Con trai tên là Punabbasumitta.
Inda-bh 33Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện voi và đã ra sức nỗ lực tám tháng không thiếu sót.
Inda-bh 34Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Sumedha, đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở tại công viên Sudassana tuyệt vời.
Inda-bh 35Saraṇa và Sabbakāma đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha tên là Sāgara.
Inda-bh 36Rāmā và luôn cả Surāmā đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là “Cây Nīpa vĩ đại.”
Inda-bh 37Uruvela và luôn cả Yasava đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Yasodharā và Sirimā đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 38Cao tám mươi tám ratana (22 mét), bậc Đại Hiền Triết chiếu sáng tất cả các phương tợ như mặt trăng ở giữa tập thể các vì sao.
Inda-bh 39Giống như viên ngọc ma-ni của vị Chuyển Luân Vương chiếu sáng một do tuần, tương tợ y như thế, ngọc quý của vị ấy tỏa sáng một do-tuần ở xung quanh.1
Inda-bh 40Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín chục ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 41(Giáo Pháp) này đã được hưng thịnh nhờ vào các vị A-la-hán tốt lành, đã thành tựu tam minh, sáu thắng trí, và năng lực như thế ấy.
Inda-bh 42Tất cả các vị ấy đều có danh tiếng vô hạn, đã được giải thoát, không còn tái sanh. Sau khi thị hiện ánh sáng của trí tuệ, tất cả các vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
Inda-bh 43Đức Phật, đấng Chiến Thắng cao quý Sumedha đã Niết Bàn tại tu viện Medha. Đã có sự phân tán xá-lợi từ xứ sở ấy đến khắp các nơi.
Lịch sử đức Phật Sumedha là phần thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Padumuttarassa aparena, sumedho nāma nāyako;
Durāsado uggatejo, sabbalokuttamo muni.
After Padumuttara, there arose a leader named Sumedha, a sage who was difficult to assail, of fierce power, and supreme in all the world.
Sau thời của đức Padumuttara, bậc Lãnh Đạo tên là Sumedha, bậc ẩn sĩ không ai có thể tiếp cận, có uy lực mạnh mẽ, vượt trên tất cả thế gian (đã xuất hiện).
2.
2.
2.
Pasannanetto sumukho, brahā uju patāpavā;
Hitesī sabbasattānaṃ, bahū mocesi bandhanā.
With clear eyes and a beautiful face, great, upright, and majestic, a seeker of the welfare of all beings, he freed many from the fetters.
Ngài có đôi mắt trong sáng, khuôn mặt đẹp đẽ, thân hình to lớn, thẳng thắn, và oai hùng. Là người tìm cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh, ngài đã giải thoát nhiều chúng sanh khỏi sự trói buộc.
3.
3.
3.
Yadā buddho pāpuṇitvā, kevalaṃ bodhimuttamaṃ;
Sudassanamhi nagare, dhammacakkaṃ pavattayi.
When the Buddha, having attained the entire supreme enlightenment, set the Wheel of Dhamma in motion in the city of Sudassana.
Khi đức Phật, sau khi đã đạt đến sự Giác Ngộ tối thượng, toàn vẹn, ngài đã chuyển Pháp luân tại thành Sudassana.
4.
4.
4.
Tassāpi abhisamayā tīṇi, ahesuṃ dhammadesane;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
For him also, there were three penetrations of the Truths at the preaching of the Dhamma. The first penetration of the Truths occurred for one hundred thousand koṭis.
Cũng có ba lần hội chúng chứng ngộ trong các buổi thuyết pháp của ngài. Lần chứng ngộ đầu tiên là của một trăm ngàn ức chúng sanh.
5.
5.
5.
Punāparaṃ kumbhakaṇṇaṃ, yakkhaṃ so damayī jino;
Navutikoṭisahassānaṃ, dutiyābhisamayo ahu.
Again, at another time, that Victor tamed the yakkha named Kumbhakaṇṇa. Then, the second penetration of the Truths occurred for ninety thousand koṭis.
Lại một lần khác, bậc Chiến Thắng ấy đã nhiếp phục dạ-xoa Kumbhakaṇṇa. Lần chứng ngộ thứ hai là của chín mươi ngàn ức chúng sanh.
6.
6.
6.
Punāparaṃ amitayaso, catusaccaṃ pakāsayi;
Asītikoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
Again, at another time, the One of incomparable fame proclaimed the Four Truths. Then, the third penetration of the Truths occurred for eighty thousand koṭis.
Lại một lần khác, vị có danh tiếng vô lượng đã làm sáng tỏ Tứ Diệu Đế. Lần chứng ngộ thứ ba là của tám mươi ngàn ức chúng sanh.
7.
7.
7.
Sannipātā tayo āsuṃ, sumedhassa mahesino;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, santacittāna tādinaṃ.
There were three assemblies of the Arahants, disciples of the great sage Sumedha, who were free from defilements, of tranquil mind, and steadfast.
Đã có ba cuộc hội họp của các vị đã tận trừ lậu hoặc, không còn cấu uế, có tâm tịch tịnh, và vững chắc, dưới sự giáo hóa của bậc Đại Sĩ Sumedha.
8.
8.
8.
Sudassanaṃ nāma nagaraṃ, upagañchi jino yadā;
Tadā khīṇāsavā bhikkhū, samiṃsu satakoṭiyo.
When the Victor approached the city named Sudassana, one hundred koṭis of monks who were Arahants assembled.
Khi bậc Chiến Thắng đi đến thành phố tên là Sudassana, khi ấy một trăm ức vị Tỳ-khưu đã tận trừ lậu hoặc đã tụ họp.
9.
9.
9.
Punāparaṃ devakūṭe, bhikkhūnaṃ kathinatthate;
Tadā navutikoṭīnaṃ, dutiyo āsi samāgamo.
Again, at another time, at Mount Devakūṭa, at the spreading of the kathina cloth for the monks, the second assembly of ninety koṭis occurred.
Lại một lần khác, tại núi Devakūṭa, trong buổi lễ dâng y kaṭhina của các Tỳ-khưu, khi ấy đã có cuộc hội họp thứ hai của chín mươi ức vị.
10.
10.
10.
Punāparaṃ dasabalo, yadā carati cārikaṃ;
Tadā asītikoṭīnaṃ, tatiyo āsi samāgamo.
Again, at another time, when the One with Ten Powers was wandering on tour, the third assembly of eighty koṭis occurred.
Lại một lần khác, khi bậc Thập Lực đi du hành, khi ấy đã có cuộc hội họp thứ ba của tám mươi ức vị.
11.
11.
11.
Ahaṃ tena samayena, uttaro nāma māṇavo;
Asītikoṭiyo mayhaṃ, ghare sannicitaṃ dhanaṃ.
At that time, I was a young man named Uttara. In my house, there was an accumulated wealth of eighty koṭis.
Vào thời ấy, ta là một thanh niên tên là Uttara. Trong nhà của ta, tài sản được tích trữ là tám mươi ức.
12.
12.
12.
Kevalaṃ sabbaṃ datvāna, sasaṅghe lokanāyake;
Saraṇaṃ tassupagañchiṃ, pabbajjañcābhirocayiṃ.
Having given all that wealth without remainder to the World-Leader together with the Sangha, I went for refuge to him and greatly delighted in the going forth.
Sau khi đã cúng dường tất cả toàn bộ (tài sản) đến bậc Lãnh Đạo của thế gian cùng với Tăng chúng, ta đã quy y nơi vị ấy và cũng đã ưa thích sự xuất gia.
13.
13.
13.
Sopi maṃ buddho byākāsi, karonto anumodanaṃ;
‘‘Tiṃsakappasahassamhi, ayaṃ buddho bhavissati.
That Buddha also, while giving his blessings, made a prediction concerning me: ‘Thirty thousand aeons from now, this one will become a Buddha.’
Đức Phật ấy, trong khi tùy hỷ, cũng đã thọ ký cho ta rằng: ‘Sau ba mươi ngàn đại kiếp, vị này sẽ trở thành một vị Phật.’
14.
14.
14.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having striven in the great striving... (etc.)... we shall be in the presence of this one.’
‘Sau khi đã nỗ lực tinh tấn... (v.v.)... chúng ta sẽ được diện kiến vị này.’
15.
15.
15.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo cittaṃ pasādayiṃ;
Uttariṃ vatamadhiṭṭhāsiṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I made my mind exceedingly serene. For the fulfillment of the ten perfections, I undertook a more excellent practice.
Sau khi nghe lời của vị ấy, ta đã làm cho tâm càng thêm tịnh tín. Ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện cao hơn để làm tròn mười pháp Ba-la-mật.
16.
16.
16.
Suttantaṃ vinayañcāpi, navaṅgaṃ satthusāsanaṃ;
Sabbaṃ pariyāpuṇitvāna, sobhayiṃ jinasāsanaṃ.
Having mastered the Suttanta and the Vinaya, the entire nine-limbed Teaching of the Master, I adorned the Dispensation of the Victor.
Sau khi đã học thuộc Kinh tạng và Luật tạng, tức là toàn bộ chín chi phần giáo pháp của bậc Đạo Sư, ta đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
17.
17.
17.
Tatthappamatto viharanto, nisajjaṭṭhānacaṅkame;
Abhiññāsu pāramiṃ gantvā, brahmalokamagañchahaṃ.
Dwelling there heedfully in the postures of sitting, standing, and walking, and having reached the further shore in the supernormal knowledges, I went to the Brahma-world.
Ở nơi ấy, trong khi trú không dể duôi trong các oai nghi ngồi, đứng, đi kinh hành, sau khi đã đạt đến sự toàn hảo trong các pháp thắng trí, ta đã đi đến cõi Phạm Thiên.
18.
18.
18.
Sudassanaṃ nāma nagaraṃ, sudatto nāma khattiyo;
Sudattā nāma janikā, sumedhassa mahesino.
The city of the great sage Sumedha was named Sudassana; his father, the khattiya, was named Sudatta, and his mother was named Sudattā.
Đối với đấng Đại ẩn sĩ Sumedha, thành phố của ngài tên là Sudassana, vua cha thuộc dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudatta, và mẫu hậu tên là Sudattā.
19.
19.
19.
Navavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Sucandakañcanasirivaḍḍhā, tayo pāsādamuttamā.
For nine thousand years he dwelt ruling in the household. Sucanda, Kañcana, and Sirivaddha were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong chín ngàn năm. Có ba ngôi điện cao quý là: Sucanda, Kañcana, và Sirivaḍḍha.
20.
20.
20.
Tisoḷasasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Sumanā nāma sā nārī, punabbasu nāma atrajo.
There were forty-eight thousand well-adorned women. The chief consort was named Sumanā, and the son was named Punabbasu.
Có bốn mươi tám ngàn cung nữ được trang điểm lộng lẫy. Vị chánh phi của ngài tên là Sumanā, người con trai tên là Punabbasu.
21.
21.
21.
Nimitte caturo disvā, hatthiyānena nikkhami;
Anūnakaṃ aḍḍhamāsaṃ, padhānaṃ padahī jino.
Having seen the four signs, he went forth by means of an elephant-vehicle. For no less than half a month, the Victor undertook the great striving.
Đấng Chinh Phục, sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, đã xuất gia bằng xe voi. Ngài đã thực hành sự tinh tấn trong nửa tháng không gián đoạn.
22.
22.
22.
Brahmunā yācito santo, sumedho lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, sudassanuyyānamuttame.
Requested by Brahmā, the serene World-Leader Sumedha, the Great Hero, set the Wheel of Dhamma in motion in the excellent Sudassana Park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, đấng Sumedha, bậc Lãnh đạo Thế gian, bậc Đại Anh hùng thanh tịnh đã chuyển Pháp luân tại vườn thượng uyển Sudassana cao quý.
23.
23.
23.
Saraṇo sabbakāmo ca, ahesuṃ aggasāvakā;
Sāgaro nāmupaṭṭhāko, sumedhassa mahesino.
Saraṇa and Sabbakāma were the chief disciples. The attendant of the great sage Sumedha was named Sāgara.
Saraṇa và Sabbakāma là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả của đấng Đại ẩn sĩ Sumedha tên là Sāgara.
24.
24.
24.
Rāmā ceva surāmā ca, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, mahānīpoti vuccati.
Rāmā and Surāmā were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the great Nīpa tree.
Rāmā và Surāmā là hai vị Nữ Thượng thủ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây gáo lớn.
25.
25.
25.
Uruvelā yasavā ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Yasodharā sirimā ca †, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Uruvela and Yasava were the chief male lay supporters; Yasodharā and Sirimā were the chief female lay supporters.
Uruvelā và Yasavā là hai vị nam Thượng thủ Hộ độ. Yasodharā và Sirimā là hai vị nữ Thượng thủ Hộ độ.
26.
26.
26.
Aṭṭhāsītiratanāni, accuggato mahāmuni;
Obhāseti disā sabbā, cando tāragaṇe yathā.
The great sage was eighty-eight cubits tall. He illumined all directions, just as the moon among the host of stars.
Đấng Đại ẩn sĩ cao tám mươi tám ratana. Ngài chiếu sáng khắp mọi phương, giống như mặt trăng ở giữa các vì sao.
27.
27.
27.
Cakkavattimaṇī nāma, yathā tapati yojanaṃ;
Tatheva tassa ratanaṃ, samantā pharati yojanaṃ.
Just as the jewel of a wheel-turning monarch shines, pervading a yojana, even so the radiance from his body spreads for a yojana all around.
Giống như viên ngọc của Chuyển luân vương tỏa sáng một do-tuần, cũng vậy, hào quang của ngài lan tỏa khắp xung quanh một do-tuần.
28.
28.
28.
Navutivassasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
The lifespan at that time was ninety thousand years. Remaining for that long, he ferried many beings across.
Vào thời ấy, tuổi thọ là chín mươi ngàn năm. Trong khi còn tại thế, vị ấy đã cứu độ nhiều chúng sanh.
29.
29.
29.
Tevijjachaḷabhiññehi, balappattehi tādihi;
Samākulamidaṃ āsi, arahantehi sādhuhi.
This dispensation was thronged with virtuous Arahants endowed with the three knowledges and the six direct knowledges, who had attained the power and were steadfast.
Giáo pháp này đã tràn đầy các vị A-la-hán thiện lành, những vị có tam minh, lục thông, đã đạt đến sức mạnh, và vững chắc.
30.
30.
30.
Tepi sabbe amitayasā, vippamuttā nirūpadhī;
Ñāṇālokaṃ dassayitvā, nibbutā te mahāyasā.
All of them, of immeasurable fame, fully liberated and without substrates, having displayed the light of knowledge, those of great fame attained Parinibbāna.
Tất cả các vị ấy, có danh tiếng vô lượng, đã được giải thoát, không còn chấp thủ. Sau khi đã chỉ ra ánh sáng của trí tuệ, những vị có danh tiếng lớn ấy đã nhập Niết-bàn.
31.
31.
31.
Sumedho jinavaro buddho, medhārāmamhi nibbuto;
Dhātuvitthārikaṃ āsi, tesu tesu padesatoti.
The Buddha Sumedha, the excellent Victor, attained Parinibbāna in the Medhārāma. There was a wide dispersal of his relics in all the various regions.
Đức Phật Sumedha, đấng Thắng Giả cao quý, đã nhập Niết-bàn tại tu viện Medhārāma. Xá-lợi của ngài đã được phân bố ở nhiều nơi khác nhau.
The Eleventh Chronicle of the Blessed One Sumedha.
Chủng tộc của đức Thế Tôn Sumedha, chương thứ mười một.