Bản dịch
BV 11 — Lịch Sử Đức Phật Nārada
11. Nāradabuddhavaṁsa
Inda-bh 1Sau (đức Phật) Paduma, có đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân tên Nārada là không kẻ sánh bằng, không người đối thủ.
Inda-bh 2Đức Phật ấy, người con trai trưởng yêu quý của vị Chuyển Luân Vương, có sự trang sức với vòng hoa bằng ngọc trai đã đi (bộ) đến công viên.
Inda-bh 3Ở tại nơi ấy có cội cây lẫy lừng danh tiếng, tuyệt đẹp, to lớn, thanh khiết. Sau khi đi đến nơi ấy, vị ấy đã ngồi xuống ở dưới cội cây Soṇa vĩ đại.
Inda-bh 4Ở tại nơi ấy, trí tuệ cao quý, vô biên, (sắc bén) tợ kim cương đã được sanh khởi. Nhờ đó, vị ấy đã khảo sát các hành theo lối ngửa lên và theo lối úp xuống.
Inda-bh 5Ở tại nơi ấy, vị ấy đã xua đi tất cả phiền não không còn dư sót, đã đạt đến quả vị hoàn toàn Giác Ngộ và mười bốn trí tuệ của vị Phật.
Inda-bh 6Sau khi đạt đến quả vị Toàn Giác, vị ấy đã chuyển vận bánh xe Chánh Pháp. Đã có sự lãnh hội lần thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi (một ngàn tỷ, một triệu triệu) vị.
Inda-bh 7Trong lúc huấn luyện Long Vương Mahādoṇa, bậc Đại Hiền Triết đã thể hiện điều kỳ diệu ấy (song thông) cho thế gian luôn cả chư thiên nhìn thấy.
Inda-bh 8Lúc bấy giờ, trong lần giảng giải Giáo Pháp ấy cho chư thiên và nhân loại, chín chục ngàn koṭi (chín trăm tỷ) vị đã vượt qua tất cả các mối nghi hoặc.
Inda-bh 9Vào thời điểm đấng Đại Hùng giáo giới người con trai của mình, đã có sự lãnh hội lần thứ ba là của tám chục ngàn koṭi (tám trăm tỷ) vị.
Inda-bh 10Bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada đã có ba lần tụ hội. Cuộc hội tụ thứ nhất là của một trăm ngàn koṭi vị.
Inda-bh 11Vào lúc đức Phật giảng giải về đức hạnh của chư Phật có cả phần duyên khởi, khi ấy chín chục ngàn koṭi vị không còn ô nhiễm đã tụ hội lại.
Inda-bh 12Vào lúc con rồng Verocana dâng cúng vật thí đến bậc Đạo Sư, khi ấy tám mươi trăm ngàn (tám triệu) người con trai của đấng Chiến Thắng đã tụ hội lại.
Inda-bh 13Vào lúc bấy giờ, ta là đạo sĩ tóc bện, có khổ hạnh cao tột, đi lại ở trên không trung, toàn hảo về năm thắng trí.
Inda-bh 14Khi ấy, sau khi làm hài lòng vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng cùng với hội chúng và đoàn tháp tùng bằng cơm nước, ta đã cúng dường gỗ đàn hương.
Inda-bh 15Đức Phật, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Nārada ấy cũng đã chú nguyện cho ta rằng: “Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này, (người này) sẽ trở thành vị Phật ở thế gian.
Inda-bh 16Sau khi rời khỏi (thành phố) xinh đẹp tên là Kapila, đức Như Lai ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được (khổ hạnh).
Inda-bh 17Sau khi ngồi xuống ở cội cây của những người chăn dê, đức Như Lai nhận lấy món cơm sữa ở tại nơi ấy rồi đi đến Nerañjarā (Ni-liên-thiền).
Inda-bh 18Ở tại bờ sông Nerañjarā, đấng Chiến Thắng ấy thọ thực món cơm sữa rồi đi đến cội cây Bồ Đề bằng đạo lộ cao quý đã được dọn sẵn.
Inda-bh 19Kế đó, sau khi nhiễu quanh khuôn viên của cội Bồ Đề, bậc Vô Thượng, vị có danh tiếng vĩ đại sẽ được giác ngộ ở tại cội cây Assattha.
Inda-bh 20Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vị này sẽ là Gotama.
Inda-bh 21Kolita và Upatissa sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng ấy.
Inda-bh 22Khemā và Uppalavaṇṇā sẽ là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi tên là ‘Assattha.’
Inda-bh 23Citta và Haṭṭhāḷavaka sẽ là (hai) nam thí chủ hộ độ hàng đầu. Uttarā và Nandamātā sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu. Tuổi thọ (vào thời) của vị Gotama có danh tiếng ấy là một trăm năm.”
Inda-bh 24Sau khi nghe được lời nói này của vị Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư thiên và nhân loại vui mừng (nghĩ rằng): “Vị này là chủng tử mầm mống của chư Phật.”
Inda-bh 25Họ thốt lên những tiếng reo hò, vỗ tay, và nở nụ cười. Mười ngàn thế giới luôn cả chư thiên chắp tay cúi lạy (nói rằng):
Inda-bh 26“Nếu chúng tôi thất bại với lời giáo huấn của đấng Lãnh Đạo Thế Gian này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.
Inda-bh 27Giống như những người đang băng ngang giòng sông không đạt được bến bờ đối diện, họ vượt qua giòng sông rộng lớn sau khi đạt được bến bờ ở bên dưới.
Inda-bh 28Tương tợ y như thế, nếu tất cả chúng tôi lỡ dịp với đấng Chiến Thắng này thì chúng tôi sẽ đối diện vị kia trong tương lai xa vời.”
Inda-bh 29Nghe được lời nói của vị ấy, ta đã khiến tâm được mừng rỡ bội phần. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Inda-bh 30Thành phố có tên là Dhaññavatī, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Sudeva, người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Nārada tên là Anomā.
Inda-bh 31Vị ấy đã sống ở giữa gia đình chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài tuyệt vời là Jita, Vijita, và Vijitābhirāma.
Inda-bh 32Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm. Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Vijitasenā. Con trai tên là Nanduttara.
Inda-bh 33Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu, vị Lãnh Đạo thế gian đã ra đi bằng sự đi bộ (sự đi bằng bàn chân) và đã thực hành hạnh nỗ lực bảy ngày.
Inda-bh 34Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Nārada đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp) ở công viên Dhanañjaya tuyệt vời.
Inda-bh 35Bhaddasāla và Jitamitta đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada tên là Vāseṭṭha.
Inda-bh 36Uttarā và luôn cả Phaggunī đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Soṇa vĩ đại.”
Inda-bh 37Uggarinda và Vasabha sẽ là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu. Indīvarī và Undī sẽ là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Inda-bh 38Cao tám mươi tám ratana (22 mét), bậc Đại Hiền Triết ấy chiếu sáng mười ngàn thế giới tương tợ như cột trụ bằng vàng có gắn tràng hoa.
Inda-bh 39Khi ấy, thân thể có ánh sáng hào quang của vị ấy chiếu ra các phương liên tục ngày dêm và tỏa sáng (xung quanh) một do-tuần.
Inda-bh 40Vào lúc bấy giờ, được tràn ngập bởi hào quang của đức Phật, những người ở xung quanh một do-tuần không ai thắp sáng các ngọn đèn đuốc.
Inda-bh 41Tuổi thọ được biết là kéo dài đến chín mươi ngàn năm. Trong khi tồn tại đến chừng ấy, vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Inda-bh 42Giống như bầu trời được trang điểm và chói sáng bởi các vì sao, tương tợ như thế ấy Giáo Pháp của vị ấy rạng rỡ nhờ vào các vị A-la-hán.
Inda-bh 43Sau khi đã thiết lập vững chắc cây cầu Chánh Pháp để giúp vượt qua dòng chảy luân hồi đối với số người còn lại đã đạt được (đạo quả Hữu Học), đấng Nhân Ngưu ấy đã Niết Bàn.
Inda-bh 44Đức Phật ấy là vị tương đương với các bậc không thể sánh bằng, và các bậc Lậu Tận ấy là có oai lực vô song, tất cả đều hoàn toàn biết mất; phải chăng tất cả các hành là trống không?
Inda-bh 45Đấng Chiến Thắng hàng đầu Nārada đã Niết Bàn tại thành phố Sudassana. Ngôi bảo tháp cao quý của đấng Chiến Thắng đã được dựng lên cao bốn do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Lịch sử đức Phật Nārada là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Padumassa aparena, sambuddho dvipaduttamo;
Nārado nāma nāmena, asamo appaṭipuggalo.
After Paduma, there arose a Perfectly Enlightened One, supreme among two-footed beings, Nārada by name, unequalled, without a counterpart.
Sau thời đức Phật Paduma là bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Tối Thượng của loài hai chân, danh hiệu là Nārada, không ai sánh bằng, không có đối thủ.
2.
2.
2.
So buddho cakkavattissa, jeṭṭho dayitaoraso;
Āmukkamālābharaṇo, uyyānaṃ upasaṅkami.
That Buddha-to-be was the eldest, beloved, legitimate son of a wheel-turning monarch. Wearing garlands and ornaments, he went to a park.
Vị Bồ-tát ấy là con trưởng, là người con yêu quý của đấng Chuyển Luân Vương; ngài được trang hoàng với vòng hoa và đồ trang sức, đã đi đến ngự uyển.
3.
3.
3.
Tatthāsi rukkho yasavipulo, abhirūpo brahā suci;
Tamajjhapatvā upanisīdi, mahāsoṇassa heṭṭhato.
There was a tree of vast renown, beautiful, large, and pure. Having approached it, he sat down beneath the Mahāsoṇa tree.
Ở nơi ấy có một cây đại soṇa (cây lưỡi mèo lớn) danh tiếng lẫy lừng, hình dáng xinh đẹp, to lớn, và thanh khiết. Sau khi đi đến đó, ngài đã ngồi xuống ở dưới gốc cây đại soṇa.
4.
4.
4.
Tattha ñāṇavaruppajji, anantaṃ vajirūpamaṃ;
Tena vicini saṅkhāre, ukkujjamavakujjakaṃ †.
There the excellent, endless, diamond-like knowledge arose in him. With it he investigated the formations, both their arising and their ceasing.
Tại nơi ấy, trí tuệ cao thượng, vô biên, và giống như kim cương đã phát sanh. Nhờ trí tuệ ấy, ngài đã quán xét các pháp hữu vi, sự sanh và diệt của chúng.
5.
5.
5.
Tattha sabbakilesāni, asesamabhivāhayi;
Pāpuṇī kevalaṃ bodhiṃ, buddhañāṇe ca cuddasa.
There he drove away all defilements without remainder. He attained complete enlightenment and the fourteen knowledges of a Buddha.
Tại nơi ấy, ngài đã diệt trừ tất cả các phiền não không còn dư sót. Ngài đã chứng đắc trọn vẹn quả vị Giác Ngộ và mười bốn Phật trí.
6.
6.
6.
Pāpuṇitvāna sambodhiṃ, dhammacakkaṃ pavattayi;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamābhisamayo ahu.
Having attained perfect enlightenment, he set the Wheel of Dhamma in motion. The first breakthrough occurred for one hundred thousand koṭis.
Sau khi đã chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác, ngài đã chuyển Pháp luân. Đã có sự thấu triệt (Pháp) lần đầu tiên cho một trăm ngàn ức (chư thiên và nhân loại).
7.
7.
7.
Mahādoṇaṃ nāgarājaṃ, vinayanto mahāmuni;
Pāṭiheraṃ tadākāsi, dassayanto sadevake.
While taming the nāga king Mahādoṇa, the great sage performed a miracle, displaying it to the world with its devas.
Trong khi bậc Đại Ẩn Sĩ đang giáo hóa long vương Mahādoṇa, vào lúc ấy ngài đã thực hiện thần thông, biểu diễn cho thế gian cùng với chư thiên.
8.
8.
8.
Tadā devamanussānaṃ, tamhi dhammappakāsane;
Navutikoṭisahassāni, tariṃsu sabbasaṃsayaṃ.
Then, at that proclamation of the Dhamma, ninety thousand koṭis of devas and humans crossed over all doubt.
Vào lúc ấy, trong buổi thuyết Pháp ấy, chín mươi ngàn ức chư thiên và nhân loại đã vượt qua tất cả mọi hoài nghi.
9.
9.
9.
Yamhi kāle mahāvīro, ovadī sakamatrajaṃ;
Asītikoṭisahassānaṃ, tatiyābhisamayo ahu.
At the time when the great hero admonished his own son, the third breakthrough occurred for eighty thousand koṭis.
Vào lúc bậc Đại Hùng giáo giới người con trai của mình, đã có sự thấu triệt (Pháp) lần thứ ba cho tám mươi ngàn ức (chư thiên và nhân loại).
10.
10.
10.
Sannipātā tayo āsuṃ, nāradassa mahesino;
Koṭisatasahassānaṃ, paṭhamo āsi samāgamo.
There were three assemblies of the great seer Nārada. The first gathering consisted of one hundred thousand koṭis of Arahants.
Đã có ba lần hội chúng của bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada. Lần hội họp đầu tiên là của một trăm ngàn ức vị (A-la-hán).
11.
11.
11.
Yadā buddho buddhaguṇaṃ, sanidānaṃ pakāsayi;
Navutikoṭisahassāni, samiṃsu vimalā tadā.
When the Buddha proclaimed the qualities of a Buddha together with their source, ninety thousand koṭis of stainless ones assembled then.
Khi đức Phật tuyên thuyết về đức hạnh của chư Phật cùng với các nhân duyên, vào lúc ấy chín mươi ngàn ức vị không còn cấu uế đã hội họp lại.
12.
12.
12.
Yadā verocano nāgo, dānaṃ dadāti satthuno;
Tadā samiṃsu jinaputtā, asītisatasahassiyo.
When the nāga Verocana gave a gift to the Teacher, eight million sons of the Victor assembled then.
Khi long vương Verocana dâng cúng dường lên bậc Đạo Sư, vào lúc ấy tám mươi trăm ngàn (tám triệu) vị con của đấng Thắng Giả đã hội họp lại.
13.
13.
13.
Ahaṃ tena samayena, jaṭilo uggatāpano;
Antalikkhacaro āsiṃ, pañcābhiññāsu pāragū.
At that time I was a matted-hair ascetic of fierce austerities. I was a sky-farer who had mastered the five superknowledges.
Vào lúc bấy giờ, ta là một vị đạo sĩ bện tóc, thực hành khổ hạnh nghiêm khắc. Ta là người đi lại trong hư không, là bậc đã đến bờ bên kia của năm loại thắng trí.
14.
14.
14.
Tadāpāhaṃ asamasamaṃ, sasaṅghaṃ saparijjanaṃ;
Annapānena tappetvā, candanenābhipūjayiṃ.
Then I, having satisfied with food and drink the one equal to the unequalled, together with his Saṅgha and retinue, honored him with sandalwood.
Vào lúc ấy, ta đã làm cho vị ấy, đấng tương đương với bậc Vô Song, cùng với Tăng chúng và đoàn tùy tùng được mãn nguyện với vật thực và thức uống, và đã cúng dường ngài bằng gỗ chiên-đàn.
15.
15.
15.
Sopi maṃ tadā byākāsi, nārado lokanāyako;
‘‘Aparimeyyito kappe, ayaṃ buddho bhavissati.
He, Nārada, the Leader of the World, also made a prophecy about me at that time: 'In an incalculable eon from now, this one will become a Buddha.'
Vị ấy, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Nārada, vào lúc ấy cũng đã thọ ký cho ta rằng: “Vào một kiếp không thể đếm được kể từ đây, vị này sẽ trở thành một vị Phật.”
16.
16.
16.
‘‘Padhānaṃ padahitvāna…pe… hessāma sammukhā imaṃ’’.
‘Having undertaken the striving… we will be in his presence.’
“Sau khi đã nỗ lực tinh tấn, ... (thực hành khổ hạnh), ... chúng ta sẽ được diện kiến vị này.”
17.
17.
17.
Tassāpi vacanaṃ sutvā, bhiyyo hāsetva mānasaṃ;
Adhiṭṭhahiṃ vataṃ uggaṃ, dasapāramipūriyā.
Having heard his words, I made my mind rejoice even more. I resolved upon a fierce practice for the fulfillment of the ten perfections.
Sau khi nghe lời nói của vị ấy, tâm trí ta lại càng thêm hoan hỷ; ta đã quyết tâm thực hành hạnh nguyện nghiêm ngặt để làm viên mãn mười pháp ba-la-mật.
18.
18.
18.
Nagaraṃ dhaññavatī nāma, sudevo nāma khattiyo;
Anomā nāma janikā, nāradassa mahesino.
The city was named Dhaññavatī, the khattiya was named Sudeva, and the mother of the great seer Nārada was named Anomā.
Kinh thành tên là Dhaññavatī, vị vua Sát-đế-lỵ (phụ vương) tên là Sudeva, mẫu hậu tên là Anomā, (đó là song thân) của bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada.
19.
19.
19.
Navavassasahassāni, agāraṃ ajjha so vasi;
Jito vijitābhirāmo, tayo pāsādamuttamā.
For nine thousand years he dwelt in the household life. Jita, Vijita, and Abhirāma were his three excellent palaces.
Vị ấy đã sống tại gia trong chín ngàn năm. Có ba tòa lâu đài cao quý là Jita, Vijita, và Abhirāma.
20.
20.
20.
Ticattārīsasahassāni, nāriyo samalaṅkatā;
Vijitasenā nāma nārī, nanduttaro nāma atrajo.
There were forty-three thousand well-adorned women. The chief consort was named Vijitasenā, and his son was named Nanduttara.
Có bốn mươi ba ngàn phụ nữ được trang điểm lộng lẫy. Người vợ tên là Vijitasenā, người con trai tên là Nanduttara.
21.
21.
21.
Nimitte caturo disvā, padasā gamanena nikkhami;
Sattāhaṃ padhānacāraṃ, acarī purisuttamo †.
Having seen the four signs, he went forth on foot. For seven days, the supreme person practiced the striving.
Sau khi nhìn thấy bốn điềm báo, bậc Tối Thượng Nhân đã xuất gia bằng cách đi bộ. Ngài đã thực hành sự tinh tấn trong bảy ngày.
22.
22.
22.
Brahmunā yācito santo, nārado lokanāyako;
Vatti cakkaṃ mahāvīro, dhanañcuyyānamuttame.
Requested by Brahmā, the serene Nārada, the great hero and leader of the world, set the Wheel in motion in the excellent Dhanañca Park.
Được Phạm thiên thỉnh cầu, bậc Thánh nhân, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Nārada, bậc Đại Hùng, đã chuyển Pháp luân ở tại ngự uyển Dhanañjaya cao quý.
23.
23.
23.
Bhaddasālo jitamitto, ahesuṃ aggasāvakā;
Vāseṭṭho nāmupaṭṭhāko, nāradassa mahesino.
Bhaddasāla and Jitamitta were the chief disciples; the attendant of the great seer Nārada was named Vāseṭṭha.
Bhaddasāla và Jitamitta là hai vị Thượng thủ Thinh văn. Vị thị giả tên là Vāseṭṭha của bậc Đại Ẩn Sĩ Nārada.
24.
24.
24.
Uttarā phaggunī ceva, ahesuṃ aggasāvikā;
Bodhi tassa bhagavato, mahāsoṇoti vuccati.
Uttarā and Phaggunī were the chief female disciples. The Bodhi tree of that Blessed One is called the Mahāsoṇa.
Uttarā và Phaggunī là hai vị Thượng thủ Nữ Thinh văn. Cây Bồ-đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là cây đại soṇa (cây lưỡi mèo lớn).
25.
25.
25.
Uggarindo vasabho ca, ahesuṃ aggupaṭṭhakā;
Indāvarī ca vaṇḍī † ca, ahesuṃ aggupaṭṭhikā.
Uggarinda and Vasabha were the chief male lay supporters; Indāvarī and Vaṇḍī were the chief female lay supporters.
Uggarinda và Vasabha là hai vị Thượng thủ nam thí chủ. Indāvarī và Vaṇḍī là hai vị Thượng thủ nữ thí chủ.
26.
26.
26.
Aṭṭhāsītiratanāni, accuggato mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, dasasahassī virocati.
The great sage was eighty-eight cubits in height. Like a great golden pillar, he illumined the ten-thousand-fold world system.
Vị Đại-Muni (Nārada) cao tám mươi tám ratana (thước tay), giống như cột trụ bằng vàng, tỏa sáng rực rỡ trong mười ngàn thế giới.
27.
27.
27.
Tassa byāmappabhā kāyā, niddhāvati disodisaṃ;
Nirantaraṃ divārattiṃ, yojanaṃ pharate sadā.
The fathom-wide radiance from his body streamed out in all directions. Continuously, day and night, it always pervaded a yojana.
Hào quang một tầm (byāmappabhā) từ thân của ngài tỏa ra khắp mọi phương hướng. Hào quang ấy luôn luôn lan tỏa một do-tuần, không gián đoạn cả ngày lẫn đêm.
28.
28.
28.
Na keci tena samayena, samantā yojane janā;
Ukkāpadīpe ujjālenti, buddharaṃsīhi otthaṭā.
At that time, no people within a yojana all around lit torches or lamps, as they were suffused by the Buddha's rays.
Vào thời điểm ấy, trong phạm vi một do-tuần xung quanh, không một ai thắp đuốc hay đèn, vì tất cả đều được bao phủ bởi hào quang của đức Phật.
29.
29.
29.
Navutivassasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
His lifespan at that time was ninety thousand years. Remaining for that long, he ferried many people across.
Vào thời ấy, tuổi thọ là chín mươi ngàn năm. Trong suốt thời gian ấy, ngài đã trụ thế và cứu độ rất nhiều chúng sanh.
30.
30.
30.
Yathā uḷūhi gaganaṃ, vicittaṃ upasobhati;
Tatheva sāsanaṃ tassa, arahantehi sobhati.
Just as the sky is beautifully adorned with its host of stars, so too his Dispensation shone, adorned with Arahants.
Như bầu trời được trang điểm lộng lẫy bởi các vì sao, giáo pháp của ngài cũng rực rỡ như vậy nhờ các vị A-la-hán.
31.
31.
31.
Saṃsārasotaṃ taraṇāya, sesake paṭipannake;
Dhammasetuṃ daḷhaṃ katvā, nibbuto so narāsabho.
Having built a firm bridge of Dhamma for the remaining practitioners to cross the stream of saṃsāra, that bull among men attained Parinibbāna.
Sau khi đã xây dựng vững chắc cây cầu Pháp-bảo để những vị còn lại đang thực hành có thể vượt qua dòng chảy luân hồi, bậc Nhân Ngưu ấy đã nhập Niết-bàn.
32.
32.
32.
Sopi buddho asamasamo, tepi khīṇāsavā atulatejā;
Sabbaṃ tamantarahitaṃ, nanu rittā sabbasaṅkhārā.
That Buddha, equal to the unequalled, and those Arahants of immeasurable majesty—all that has disappeared. Surely, all conditioned things are empty!
Vị Phật không ai sánh bằng ấy, cùng các vị Lậu-tận-phiền-não có oai lực vô song kia, tất cả đều đã biến mất. Quả thật, tất cả các pháp hữu vi đều là trống rỗng!
33.
33.
33.
Nārado jinavasabho, nibbuto sudassane pure;
Tatthevassa thūpavaro, catuyojanamuggatoti.
Nārada, the bull among conquerors, attained Parinibbāna in the city of Sudassana. There his excellent stūpa stands, four yojanas high.
Đức Chánh-biến-tri Nārada đã nhập Niết-bàn tại thành Sudassana. Chính tại nơi ấy, bảo tháp tối thắng của ngài cao đến bốn do-tuần.
The Ninth Chronicle of the Blessed One Nārada is concluded.
Phẩm thứ chín: Chuyện về đức Thế Tôn Nārada.