- Aṅguttara Nikāya 9.34
- 4. Mahāvagga
Bản dịch
AN 9.34 — Niết Bàn
Nibbānasukhasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn này; này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn này.
TTC 2Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, sao đây là lạc, khi ở đây không có cái gì được cảm thọ?
TTC 3—Này Hiền giả, cái này ở đây là lạc, dầu rằng lạc ấy ở đây không được cảm thọ. Này Hiền giả, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm?
Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… Các hương do mũi nhận thức… Các vị do lưỡi nhận thức… Các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Này Hiền giả, có năm dục trưởng dưỡng này. Này Hiền giả do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc hỷ, này Hiền giả, đây gọi là dục lạc.
TTC 4Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly các dục, ly ác, bất thiện pháp… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Này Hiền giả, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với dục vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý, câu hữu với dục vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 5Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… đạt được Thiền thứ hai và an trú. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với tầm vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 6Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo ly hỷ…. chứng và trú Thiền thứ ba. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với hỷ vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với hỷ vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 7Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo đoạn lạc… đạt được Thiền thứ tư. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với xả vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với xả vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 8Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên” chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với sắc vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với sắc vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 9Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên” chứng và an trú Thức vô biên xứ. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với Không vô biên xứ vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với Không vô biên xứ vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 10Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì” chứng và an trú Vô sở hữu xứ. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với Thức vô biên xứ vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với Thức vô biên xứ vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 11Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này chư Hiền, nếu trong khi Tỷ-kheo ấy trú với an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với Vô sở hữu xứ vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý câu hữu với Vô sở hữu xứ vẫn hiện hành; như vậy đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
TTC 12Này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Vị ấy, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.34
- 4. The Great Chapter
Extinguishment is Bliss
3. Kinh Hạnh Phúc Niết Bàn
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “sukhamidaṁ, āvuso, nibbānaṁ. Sukhamidaṁ, āvuso, nibbānan”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “kiṁ panettha, āvuso sāriputta, sukhaṁ yadettha natthi vedayitan”ti?
“Etadeva khvettha, āvuso, sukhaṁ yadettha natthi vedayitaṁ.
Pañcime, āvuso, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, āvuso, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, āvuso, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, idaṁ vuccatāvuso, kāmasukhaṁ.
At one time Venerable Sāriputta was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
There he addressed the mendicants: “Reverends, extinguishment is bliss! Extinguishment is bliss!”
When he said this, Venerable Udāyī said to him, “But Reverend Sāriputta, what’s blissful about it, since nothing is felt?”
“The fact that nothing is felt is precisely what’s blissful about it.
Reverend, there are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure.
34. Một thời, Tôn giả Sāriputta trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ khưu: "Này chư hiền, Niết Bàn này là an lạc. Này chư hiền, Niết Bàn này là an lạc." Khi được nói như vậy, Tôn giả Udāyī nói với Tôn giả Sāriputta điều này: "Thưa hiền giả Sāriputta, ở đây có sự an lạc nào, khi mà ở đây không có cảm thọ?" "Này hiền giả, chính điều này là an lạc, tức là ở đây không có cảm thọ. Này chư hiền, có năm dục trưởng dưỡng này. Năm loại nào? Các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính chất khêu gợi lòng tham; các âm thanh được nhận biết bởi nhĩ thức...; các mùi hương được nhận biết bởi tỷ thức...; các vị được nhận biết bởi thiệt thức...; các đối tượng xúc chạm được nhận biết bởi thân thức, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính chất khêu gợi lòng tham. Này chư hiền, đó là năm dục trưởng dưỡng. Này chư hiền, do duyên năm dục trưởng dưỡng này mà lạc và hỷ sanh khởi, điều này được gọi là dục lạc.
Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato kāmasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te kāmasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
First, take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures … enters and remains in the first absorption. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by sensual pleasures beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by sensual pleasures beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That’s the way to understand how extinguishment is bliss.
Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu ly dục... (v.v.)... chứng và trú Sơ thiền. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý liên hệ đến dục khởi lên, điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, một sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra đau đớn; cũng vậy, các tưởng và tác ý liên hệ đến dục ấy khởi lên cho vị ấy. Điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, sự đau đớn nào, điều ấy đã được Thế Tôn nói là khổ. Này hiền giả, cũng qua phương pháp này, cần phải được biết rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato vitakkasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te vitakkasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by placing of the mind beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by placing of the mind beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Lại nữa, này hiền giả, vị tỳ khưu sau khi làm cho lắng dịu tầm và tứ... (v.v.)... chứng và trú Nhị thiền. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý liên hệ đến tầm khởi lên, điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, một sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra đau đớn; cũng vậy, các tưởng và tác ý liên hệ đến tầm ấy khởi lên cho vị ấy. Điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, sự đau đớn nào, điều ấy đã được Thế Tôn nói là khổ. Này hiền giả, cũng qua phương pháp này, cần phải được biết rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato pītisahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te pītisahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, with the fading away of rapture, enters and remains in the third absorption. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by rapture beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by rapture beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Lại nữa, này hiền giả, vị tỳ khưu do ly hỷ... (v.v.)... chứng và trú Tam thiền. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý liên hệ đến hỷ khởi lên, điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, một sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra đau đớn; cũng vậy, các tưởng và tác ý liên hệ đến hỷ ấy khởi lên cho vị ấy. Điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, sự đau đớn nào, điều ấy đã được Thế Tôn nói là khổ. Này hiền giả, cũng qua phương pháp này, cần phải được biết rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato upekkhāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te upekkhāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, enters and remains in the fourth absorption. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by bliss with equanimity beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by bliss with equanimity beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Lại nữa, này hiền giả, vị tỳ khưu do từ bỏ lạc... (v.v.)... chứng và trú Tứ thiền. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý liên hệ đến xả khởi lên, điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, một sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra đau đớn; cũng vậy, các tưởng và tác ý liên hệ đến xả ấy khởi lên cho vị ấy. Điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, sự đau đớn nào, điều ấy đã được Thế Tôn nói là khổ. Này hiền giả, cũng qua phương pháp này, cần phải được biết rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato rūpasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te rūpasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by form beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by form beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Lại nữa, này hiền giả, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do chấm dứt các tưởng về đối ngại, do không tác ý đến các tưởng về sự đa dạng, với niệm tưởng 'hư không là vô biên', chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý liên hệ đến sắc khởi lên, điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, một sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra đau đớn; cũng vậy, các tưởng và tác ý liên hệ đến sắc ấy khởi lên cho vị ấy. Điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, sự đau đớn nào, điều ấy đã được Thế Tôn nói là khổ. Này hiền giả, cũng qua phương pháp này, cần phải được biết rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato ākāsānañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te ākāsānañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by the dimension of infinite space beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by the dimension of infinite space beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Lại nữa, này hiền giả, vị tỳ khưu do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với niệm tưởng 'thức là vô biên', chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý liên hệ đến Không Vô Biên Xứ khởi lên, điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, một sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra đau đớn; cũng vậy, các tưởng và tác ý liên hệ đến Không Vô Biên Xứ ấy khởi lên cho vị ấy. Điều ấy là một sự đau đớn cho vị ấy. Này hiền giả, sự đau đớn nào, điều ấy đã được Thế Tôn nói là khổ. Này hiền giả, cũng qua phương pháp này, cần phải được biết rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma, natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato viññāṇañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te viññāṇañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by the dimension of infinite consciousness beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by the dimension of infinite consciousness beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Này hiền giả, lại nữa, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý đi kèm với Thức Vô Biên Xứ khởi lên, thì đó là một sự khổ bệnh đối với vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra khổ bệnh; cũng vậy, các tưởng và tác ý đi kèm với Thức Vô Biên Xứ ấy khởi lên. Đó là một sự khổ bệnh đối với vị ấy. Này hiền giả, bất cứ sự khổ bệnh nào, điều ấy đã được Đức Thế Tôn gọi là khổ. Này hiền giả, chính nhờ phương pháp này mà cần phải hiểu rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Tassa ce, āvuso, bhikkhuno iminā vihārena viharato ākiñcaññāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, svassa hoti ābādho. Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te ākiñcaññāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā. Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. While a mendicant is practicing such a meditation, if perception and focus accompanied by the dimension of nothingness beset them, that’s an affliction for them. Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by the dimension of nothingness beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha. That too is a way to understand how extinguishment is bliss.
Này hiền giả, lại nữa, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này hiền giả, nếu trong khi vị tỳ khưu ấy đang an trú trong trạng thái này, các tưởng và tác ý đi kèm với Vô Sở Hữu Xứ khởi lên, thì đó là một sự khổ bệnh đối với vị ấy. Này hiền giả, ví như đối với người đang an lạc, sự đau khổ khởi lên chỉ để gây ra khổ bệnh; cũng vậy, các tưởng và tác ý đi kèm với Vô Sở Hữu Xứ ấy khởi lên. Đó là một sự khổ bệnh đối với vị ấy. Này hiền giả, bất cứ sự khổ bệnh nào, điều ấy đã được Đức Thế Tôn gọi là khổ. Này hiền giả, chính nhờ phương pháp này mà cần phải hiểu rằng Niết Bàn là an lạc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānan”ti.
Tatiyaṁ.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end.
That too is a way to understand how extinguishment is bliss.”
Này hiền giả, lại nữa, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định, và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận. Này hiền giả, chính nhờ phương pháp này mà cần phải hiểu rằng Niết Bàn là an lạc. (Kinh) thứ ba.