- Aṅguttara Nikāya 9.33
- 4. Mahāvagga
Bản dịch
AN 9.33 — Chín Thứ Ðệ Trú (2)
Anupubbavihārasamāpattisutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín Thiền chứng thứ đệ trú này. Hãy lắng nghe… Này các Tỷ-kheo, thế nào là chín thứ đệ trú Thiền chứng?
TTC 2Chỗ nào các dục đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào các dục được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú: “Ta không biết vậy, Ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly các dục… chứng và an trú Thiền thứ nhất. Tại đây, các dục được đoạn diệt, các vị ấy sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 3Chỗ nào các tầm và tứ được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ, sống không an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không bỏ dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua , đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào các tầm và tứ được đoạn diệt ? Những ai sau khi đoạn diệt tầm và tứ, sống an trú? “Ta không biết vậy, Ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Tại đây, các tầm và tứ được đoạn diệt, các vị ấy sau khi đoạn diệt tầm và tứ, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 4Chỗ nào hỷ được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào hỷ được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chứng và trú Thiền thứ ba. Tại đây, hỷ được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 5Chỗ nào xả lạc được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào xả lạc được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ,… chứng và trú Thiền thứ tư. Tại đây, xả lạc được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không giả dối, không lường gạt sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 6Chỗ nào sắc tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào sắc tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý các sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú “Không vô biên xứ”. Ở đây, các sắc tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 7Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ tưởng một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú “Thức vô biên xứ”. Tại đây, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 8Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ tưởng một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú “Vô sở hữu xứ”. Tại đây, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 9Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Tại đây, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 10Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn… chứng và trú Diệt thọ tưởng định”. Tại đây, Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
Này các Tỷ-kheo, đây chín là thứ đệ trú Thiền chứng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.33
- 4. The Great Chapter
The Nine Progressive Meditative Attainments
2. Kinh Thiền Chứng Tuần Tự
“Navayimā, bhikkhave, anupubbavihārasamāpattiyo desessāmi, taṁ suṇātha …pe… katamā ca, bhikkhave, nava anupubbavihārasamāpattiyo?
Yattha kāmā nirujjhanti, ye ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha kāmā nirujjhanti, ke ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ettha kāmā nirujjhanti, te ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
“Mendicants, I will teach you the nine progressive meditative attainments … And what are the nine progressive meditative attainments?
Where sensual pleasures cease, and those who have thoroughly ended sensual pleasures meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where sensual pleasures cease’, they should be told: ‘Reverend, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. That’s where sensual pleasures cease.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
33. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng về chín thiền chứng tuần tự này, hãy lắng nghe… Này các Tỳ khưu, chín thiền chứng tuần tự là gì? Nơi nào các dục được đoạn diệt, và những vị nào sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt các dục, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các hiền giả ấy, nhờ chi phần ấy, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia.’ Nếu có người nói rằng: ‘Ở đâu các dục được đoạn diệt, và những ai sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt các dục? – Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này,’ người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền giả, ở đây, vị Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, do ly dục sanh, với hỷ và lạc. Tại đây, các dục được đoạn diệt, và các vị ấy sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt các dục.’ Này các Tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không lừa lọc sẽ hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’; sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’, người ấy sẽ cúi đầu đảnh lễ, chắp tay và đến gần để phục vụ.
Yattha vitakkavicārā nirujjhanti, ye ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha vitakkavicārā nirujjhanti, ke ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; ettha vitakkavicārā nirujjhanti, te ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where the placing of the mind and keeping it connected cease, and those who have thoroughly ended the placing of the mind and keeping it connected meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where the placing of the mind and keeping it connected cease’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. That’s where the placing of the mind and keeping it connected cease.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
“Nơi nào tầm và tứ được đoạn diệt, và những vị nào sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các hiền giả ấy, nhờ chi phần ấy, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia.’ Nếu có người nói rằng: ‘Ở đâu tầm và tứ được đoạn diệt, và những ai sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ? – Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này,’ người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền giả, ở đây, vị Tỳ khưu, do làm cho tầm và tứ lắng dịu… chứng và trú Nhị thiền; tại đây, tầm và tứ được đoạn diệt, và các vị ấy sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ.’ Này các Tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không lừa lọc sẽ hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’; sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’, người ấy sẽ cúi đầu đảnh lễ, chắp tay và đến gần để phục vụ.
Yattha pīti nirujjhati, ye ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha pīti nirujjhati, ke ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; ettha pīti nirujjhati, te ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where rapture ceases, and those who have thoroughly ended rapture meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where rapture ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, with the fading away of rapture, enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, “Equanimous and mindful, one meditates in bliss”. That’s where rapture ceases.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
“Nơi nào hỷ được đoạn diệt, và những vị nào sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt hỷ, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các hiền giả ấy, nhờ chi phần ấy, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia.’ Nếu có người nói rằng: ‘Ở đâu hỷ được đoạn diệt, và những ai sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt hỷ? – Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này,’ người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền giả, ở đây, vị Tỳ khưu, do ly hỷ… chứng và trú Tam thiền; tại đây, hỷ được đoạn diệt, và các vị ấy sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt hỷ.’ Này các Tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không lừa lọc sẽ hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’; sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’, người ấy sẽ cúi đầu đảnh lễ, chắp tay và đến gần để phục vụ.
Yattha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, ye ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, ke ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; ettha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, te ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where bliss with equanimity ceases, and those who have thoroughly ended bliss with equanimity meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where bliss with equanimity ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That’s where bliss with equanimity ceases.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
“Nơi nào lạc-xả được đoạn diệt, và những vị nào sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt lạc-xả, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các hiền giả ấy, nhờ chi phần ấy, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia.’ Nếu có người nói rằng: ‘Ở đâu lạc-xả được đoạn diệt, và những ai sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt lạc-xả? – Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này,’ người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền giả, ở đây, vị Tỳ khưu, do xả lạc… chứng và trú Tứ thiền; tại đây, lạc-xả được đoạn diệt, và các vị ấy sống sau khi đã đoạn diệt, đoạn diệt lạc-xả.’ Này các Tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không lừa lọc sẽ hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’; sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói ấy rằng: ‘Lành thay!’, người ấy sẽ cúi đầu đảnh lễ, chắp tay và đến gần để phục vụ.
Yattha rūpasaññā nirujjhati, ye ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha rūpasaññā nirujjhati, ke ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ettha rūpasaññā nirujjhati, te ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where perceptions of form ceases, and those who have thoroughly ended perceptions of form meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where perceptions of form ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that “space is infinite”, enters and remains in the dimension of infinite space. That’s where perceptions of form cease.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
‘Nơi nào sắc tưởng được đoạn diệt, và những vị nào sau khi đã làm cho sắc tưởng đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các vị hiền giả ấy, bằng phương pháp ấy, không còn khao khát, đã được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia’. Nếu có người nào nói như vầy: ‘Sắc tưởng được đoạn diệt ở đâu? Và những vị nào sau khi đã làm cho sắc tưởng đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú? Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này’, người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu do đã vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do đã làm cho các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, chứng đạt và an trú Không Vô Biên Xứ. Ở đây, sắc tưởng được đoạn diệt, và các vị ấy sau khi đã làm cho sắc tưởng đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú’. Này các tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không gian dối nên hoan hỷ, nên tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’. Sau khi đã hoan hỷ, tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’, người ấy nên đảnh lễ, chắp tay, và thân cận.
Yattha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, ye ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, ke ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ettha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, te ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where the perception of the dimension of infinite space ceases, and those who have thoroughly ended the perception of the dimension of infinite space meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where the perception of the dimension of infinite space ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that “consciousness is infinite”, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. That’s where the perception of the dimension of infinite space ceases.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
‘Nơi nào tưởng về Không Vô Biên Xứ được đoạn diệt, và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Không Vô Biên Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các vị hiền giả ấy, bằng phương pháp ấy, không còn khao khát, đã được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia’. Nếu có người nào nói như vầy: ‘Tưởng về Không Vô Biên Xứ được đoạn diệt ở đâu? Và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Không Vô Biên Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú? Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này’, người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu do đã vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, chứng đạt và an trú Thức Vô Biên Xứ. Ở đây, tưởng về Không Vô Biên Xứ được đoạn diệt, và các vị ấy sau khi đã làm cho tưởng về Không Vô Biên Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú’. Này các tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không gian dối nên hoan hỷ, nên tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’. Sau khi đã hoan hỷ, tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’, người ấy nên đảnh lễ, chắp tay, và thân cận.
Yattha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, ye ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, ke ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ettha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, te ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where the perception of the dimension of infinite consciousness ceases, and those who have thoroughly ended the perception of the dimension of infinite consciousness meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where the perception of the dimension of infinite consciousness ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that “there is nothing at all”, enters and remains in the dimension of nothingness. That’s where the perception of the dimension of infinite consciousness ceases.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
‘Nơi nào tưởng về Thức Vô Biên Xứ được đoạn diệt, và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Thức Vô Biên Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các vị hiền giả ấy, bằng phương pháp ấy, không còn khao khát, đã được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia’. Nếu có người nào nói như vầy: ‘Tưởng về Thức Vô Biên Xứ được đoạn diệt ở đâu? Và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Thức Vô Biên Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú? Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này’, người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu do đã vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ. Ở đây, tưởng về Thức Vô Biên Xứ được đoạn diệt, và các vị ấy sau khi đã làm cho tưởng về Thức Vô Biên Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú’. Này các tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không gian dối nên hoan hỷ, nên tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’. Sau khi đã hoan hỷ, tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’, người ấy nên đảnh lễ, chắp tay, và thân cận.
Yattha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, ye ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, ke ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ettha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, te ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Where the perception of the dimension of nothingness ceases, and those who have thoroughly ended the perception of the dimension of nothingness meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where the perception of the dimension of nothingness ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. That’s where the perception of the dimension of nothingness ceases.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
‘Nơi nào tưởng về Vô Sở Hữu Xứ được đoạn diệt, và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Vô Sở Hữu Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các vị hiền giả ấy, bằng phương pháp ấy, không còn khao khát, đã được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia’. Nếu có người nào nói như vầy: ‘Tưởng về Vô Sở Hữu Xứ được đoạn diệt ở đâu? Và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Vô Sở Hữu Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú? Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này’, người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu do đã vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Ở đây, tưởng về Vô Sở Hữu Xứ được đoạn diệt, và các vị ấy sau khi đã làm cho tưởng về Vô Sở Hữu Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú’. Này các tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không gian dối nên hoan hỷ, nên tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’. Sau khi đã hoan hỷ, tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’, người ấy nên đảnh lễ, chắp tay, và thân cận.
Yattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, ye ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi. ‘Kattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, ke ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo: ‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Ettha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, te ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti. Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya; ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Imā kho, bhikkhave, nava anupubbavihārasamāpattiyo”ti.
Dutiyaṁ.
Where the perception of the dimension of neither perception nor non-perception ceases, and those who have thoroughly ended the perception of the dimension of neither perception nor non-perception meditate, I say: ‘Clearly those venerables are desireless, quenched, crossed over, and gone beyond in that respect.’ If someone should say, ‘I do not know or see where the perception of the dimension of neither perception nor non-perception ceases’, they should be told: ‘It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. That’s where the perception of the dimension of neither perception nor non-perception ceases.’ Clearly someone who is not devious or deceitful would approve and agree with that statement. They’d say ‘Good!’ and bowing down, they’d pay homage with cupped palms.
These are the nine progressive meditative attainments.”
‘Nơi nào tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ được đoạn diệt, và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú, Ta nói rằng: ‘Chắc chắn các vị hiền giả ấy, bằng phương pháp ấy, không còn khao khát, đã được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia’. Nếu có người nào nói như vầy: ‘Tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ được đoạn diệt ở đâu? Và những vị nào sau khi đã làm cho tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú? Tôi không biết điều này, tôi không thấy điều này’, người ấy nên được trả lời như sau: ‘Này hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu do đã vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định. Ở đây, tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ được đoạn diệt, và các vị ấy sau khi đã làm cho tưởng về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đoạn diệt, đoạn diệt rồi an trú’. Này các tỳ khưu, chắc chắn người không xảo trá, không gian dối nên hoan hỷ, nên tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’. Sau khi đã hoan hỷ, tán thán lời đã được nói: ‘Lành thay!’, người ấy nên đảnh lễ, chắp tay, và thân cận. Này các tỳ khưu, đây thật là chín bậc thiền chứng tuần tự.” (Kinh) thứ hai.