- Aṅguttara Nikāya 9.35
- 4. Mahāvagga
Bản dịch
AN 9.35 — Con Bò Cái
Gāvīupamāsutta
TTC 1—Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó suy nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa được uống”, và con bò cái ấy đã giơ chân sau lên, trước khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước, và nó không có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, không có thể ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và không có thể uống nước trước kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa uống”, nó không có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi con hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo, ly dục, ly ác pháp… chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy không thực hành, không tu tập tướng ấy không làm cho sung mãn, không trú một cách khéo trú, vị ấy lại suy nghĩ: “Ta hãy diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai”. Vị ấy không có thể diệt các tầm và tứ… không có thể chứng và trú Thiền thứ hai. Dầu cho vị ấy có suy nghĩ: “Ta hãy ly dục… chứng và an trú Thiền thứ nhất”, vị ấy cũng không thể ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía, ví như con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si , không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết đồng ruộng, biết thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Nó suy nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa được ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa được uống”, và con bò cái ấy, sau khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước rồi giơ chân sau lên, và nó có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và uống nước trước kia chưa được uống. Tại chỗ mà trước kia nó đặt chân, nó nghĩ: “Ta hãy đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ta hãy ăn cỏ trước kia chưa ăn, ta sẽ uống nước trước kia chưa uống”, nó có thể trở lui chỗ ấy một cách an toàn. Vì sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vì con bò cái ấy sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có một số Tỷ-kheo hiền trí, thông minh, biết chỗ đồng ruộng, biết thiện xảo, ly dục, ly ác pháp… có thể chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy lại suy nghĩ: “Ta hãy diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai”. Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ hai, diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy ly hỷ… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba”. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy đoạn lạc, đoạn khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư”. Vị ấy không lẫn lộn Thiền thứ tư, đoạn lạc, đoạn khổ… chứng và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt”, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy không lẫn lộn Không vô biên xứ, vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn… không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn”, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy không lẫn lộn Thức vô biên xứ, vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn”, biết rằng “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy không lẫn lộn Vô sở hữu xứ, vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn”, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy không lẫn lộn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú. Vị ấy suy nghĩ: “Ta hãy vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định”. Vị ấy không lẫn lộn Diệt thọ tưởng định, vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nhập vào và xuất ra khỏi Thiền chứng ấy, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm. Với tâm nhu nhuyến kham nhậm, định được khéo tu tập, trở thành vô lượng. Vị ấy với định vô lượng khéo tu tập, tùy theo pháp gì, pháp gì cần được chứng ngộ với thắng trí, vị ấy hướng tâm về sự chứng ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có được khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc nhiều loại thần thông, một thân có thể trở thành nhiều thân… với thân có thể đạt đến cõi Phạm thiên. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng đắc Thiên nhĩ thông… Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể chứng Tha tâm thông, với tâm của mình biết được tâm của các loại chúng sanh và các loại hữu tình: Tâm có tham biết là tâm có tham, tâm không tham biết là tâm không tham… tâm giải thoát biết là tâm giải thoát. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể: 'Ta sẽ nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… có thể nhớ được nhiều đời quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết”. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu vị ấy muốn, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân… “Ta có thể rõ biết các loài hữu tình theo nghiệp lực của chúng”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào. Nếu muốn, vị ấy có thể, do đoạn tận các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt, vị ấy an trú. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.35
- 4. The Great Chapter
The Simile of the Cow
4. Kinh Ví Dụ Con Bò Cái
“Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ. Tassā evamassa: ‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti. Sā purimaṁ pādaṁ na suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya. Sā na ceva agatapubbaṁ disaṁ gaccheyya, na ca akhāditapubbāni tiṇāni khādeyya, na ca apītapubbāni pānīyāni piveyya; yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa: ‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti tañca padesaṁ na sotthinā paccāgaccheyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi sā, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu bālo abyatto akhettaññū akusalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; so taṁ nimittaṁ na āsevati na bhāveti na bahulīkaroti na svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
“Mendicants, suppose there was a mountain cow who was foolish, incompetent, unskillful, and lacked common sense when roaming on rugged mountains. She might think, ‘Why don’t I go somewhere I’ve never been before? I could eat grass and drink water that I’ve never tried before.’ She’d take a step with a fore-hoof; but before it was properly set down, she’d lift up a hind-hoof. She wouldn’t go somewhere she’d never been before, or eat grass and drink water that she’d never tried before. And she’d never return safely to the place she had started from. Why is that? Because that mountain cow was foolish, incompetent, unskillful, and lacked common sense when roaming on rugged mountains.
In the same way, some foolish, incompetent, unskillful mendicant, lacking common sense, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. But they don’t cultivate, develop, and make much of that basis; they don’t ensure it is properly stabilized.
35. Này các tỳ khưu, ví như có con bò cái sống ở vùng núi, ngu dốt, vụng về, không quen địa thế, không khéo đi lại trên vùng núi gồ ghề. Nó có thể nghĩ rằng: ‘Giá như ta đi đến một phương trời chưa từng đến, ăn loại cỏ chưa từng ăn, uống loại nước chưa từng uống!’ Nó chưa đặt vững chân trước mà đã nhấc chân sau lên. Do đó, nó không thể đi đến phương trời chưa từng đến, không thể ăn loại cỏ chưa từng ăn, không thể uống loại nước chưa từng uống; và nơi mà nó đang đứng với ý nghĩ: ‘Giá như ta đi đến một phương trời chưa từng đến, ăn loại cỏ chưa từng ăn, uống loại nước chưa từng uống!’, nó cũng không thể quay trở về nơi ấy một cách an toàn. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì con bò cái sống ở vùng núi ấy ngu dốt, vụng về, không quen địa thế, không khéo đi lại trên vùng núi gồ ghề. Cũng vậy, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu ngu dốt, vụng về, không quen địa thế, không khéo léo, sau khi ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh; vị ấy không thực hành, không tu tập, không làm cho sung mãn, không thiết lập vững chắc đối tượng ấy.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So na sakkoti vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharituṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So na sakkoti vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharituṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ubhato bhaṭṭho ubhato parihīno, seyyathāpi sā gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ’.
They think, ‘Why don’t I, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.’ But they’re not able to enter and remain in the second absorption. They think, ‘Why don’t I, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.’ But they’re not able to enter and remain in the first absorption. This is called a mendicant who has slipped and fallen from both sides. They’re like the mountain cow who was foolish, incompetent, unskillful, and lacking in common sense when roaming on rugged mountains.
Vị ấy nghĩ rằng: ‘Giá như ta, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, chứng đạt và an trú thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sinh!’ Vị ấy không thể, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ...v.v... chứng đạt và an trú thiền thứ hai. Vị ấy lại nghĩ rằng: ‘Giá như ta, sau khi ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh!’ Vị ấy không thể, sau khi ly dục...v.v... chứng đạt và an trú thiền thứ nhất. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là ‘người thất bại cả hai phương diện, suy thoái cả hai phương diện’, cũng như con bò cái sống ở vùng núi kia, ngu dốt, vụng về, không quen địa thế, không khéo đi lại trên vùng núi gồ ghề.
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ. Tassā evamassa: ‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti. Sā purimaṁ pādaṁ suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya. Sā agatapubbañceva disaṁ gaccheyya, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyya, apītapubbāni ca pānīyāni piveyya. Yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa: ‘yannūnāhaṁ agatapubbañceva disaṁ gaccheyyaṁ, akhāditapubbāni ca tiṇāni khādeyyaṁ, apītapubbāni ca pānīyāni piveyyan’ti tañca padesaṁ sotthinā paccāgaccheyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi sā, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ. Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu paṇḍito byatto khettaññū kusalo vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Suppose there was a mountain cow who was astute, competent, skillful, and used common sense when roaming on rugged mountains. She might think, ‘Why don’t I go somewhere I’ve never been before? I could eat grass and drink water that I’ve never tried before.’ She’d take a step with a fore-hoof; and after it was properly set down, she’d lift up a hind-hoof. She’d go somewhere she’d never been before, and eat grass and drink water that she’d never tried before. And she’d return safely to the place she had started from. Why is that? Because that mountain cow was astute, competent, skillful, and used common sense when roaming on rugged mountains. In the same way, some astute, competent, skillful mendicant, using common sense, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Này các tỳ khưu, ví như có con bò cái sống ở vùng núi, khôn ngoan, lanh lợi, quen địa thế, khéo đi lại trên vùng núi gồ ghề. Nó có thể nghĩ rằng: ‘Giá như ta đi đến một phương trời chưa từng đến, ăn loại cỏ chưa từng ăn, uống loại nước chưa từng uống!’ Nó đặt vững chân trước rồi mới nhấc chân sau lên. Do đó, nó có thể đi đến phương trời chưa từng đến, có thể ăn loại cỏ chưa từng ăn, có thể uống loại nước chưa từng uống. Và nơi mà nó đang đứng với ý nghĩ: ‘Giá như ta đi đến một phương trời chưa từng đến, ăn loại cỏ chưa từng ăn, uống loại nước chưa từng uống!’, nó cũng có thể quay trở về nơi ấy một cách an toàn. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì con bò cái sống ở vùng núi ấy khôn ngoan, lanh lợi, quen địa thế, khéo đi lại trên vùng núi gồ ghề. Cũng vậy, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu khôn ngoan, lanh lợi, quen địa thế, khéo léo, sau khi ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, và thiết lập vững chắc đối tượng ấy.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So dutiyaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.’ Without charging at the second absorption, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, ta sẽ chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh, nhất tâm, không tầm, không tứ, có hỷ và lạc do định sanh.’ Vị ấy, không làm tổn hại thiền thứ hai, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ... chứng và trú thiền thứ hai. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihareyyaṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyyaṁ yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti—upekkhako satimā sukhavihārīti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So tatiyaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno pītiyā ca virāgā … tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, with the fading away of rapture, enter and remain in the third absorption, where I will meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, “Equanimous and mindful, one meditates in bliss.”’ Without charging at the third absorption, with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do ly hỷ, ta sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, và chứng và trú thiền thứ ba, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là: xả niệm lạc trú.’ Vị ấy, không làm tổn hại thiền thứ ba, do ly hỷ... vân vân... chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So catutthaṁ jhānaṁ anabhihiṁsamāno sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, with the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.’ Without charging at the fourth absorption, with the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do xả lạc, xả khổ, do ưu và hỷ đã được diệt trừ từ trước, ta sẽ chứng và trú thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.’ Vị ấy, không làm tổn hại thiền thứ tư, do xả lạc... vân vân... chứng và trú thiền thứ tư. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So ākāsānañcāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that “space is infinite”, enter and remain in the dimension of infinite space.’ Without charging at the dimension of infinite space, with the fading away of rapture, they enter and remain in the dimension of infinite space. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, với ý niệm ‘hư không là vô biên’, ta sẽ chứng và trú Không Vô Biên Xứ.’ Vị ấy, không làm tổn hại Không Vô Biên Xứ, do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng... vân vân... chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So viññāṇañcāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that “consciousness is infinite”, enter and remain in the dimension of infinite consciousness.’ Without charging at the dimension of infinite consciousness, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, ta sẽ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ.’ Vị ấy, không làm tổn hại Thức Vô Biên Xứ, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So ākiñcaññāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that “there is nothing at all”, enter and remain in the dimension of nothingness.’ Without charging at the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of nothingness. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, ta sẽ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ.’ Vị ấy, không làm tổn hại Vô Sở Hữu Xứ, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So nevasaññānāsaññāyatanaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
They think, ‘Why don’t I, going totally beyond the dimension of nothingness, enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception.’ Without charging at the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, ta sẽ chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’ Vị ấy, không làm tổn hại Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, và an trú một cách vững chắc.
Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja vihareyyan’ti. So saññāvedayitanirodhaṁ anabhihiṁsamāno sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
They think, ‘Why don’t I, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enter and remain in the cessation of perception and feeling.’ Without charging at the cessation of perception and feeling, they enter and remain in the cessation of perception and feeling.
Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Thật tốt đẹp thay, do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, ta sẽ chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định.’ Vị ấy, không làm tổn hại Diệt Thọ Tưởng Định, do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu taṁ tadeva samāpattiṁ samāpajjatipi vuṭṭhātipi, tassa mudu cittaṁ hoti kammaññaṁ. Mudunā kammaññena cittena appamāṇo samādhi hoti subhāvito. So appamāṇena samādhinā subhāvitena yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
When a mendicant enters and emerges from any one of these attainments, their mind becomes pliable and workable. With a pliable and workable mind, their immersion becomes limitless and well developed. They extend the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and they are capable of realizing those things, since each and every one is within range.
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu nhập và xuất chính định ấy, tâm của vị ấy trở nên nhu nhuyến và dễ sử dụng. Với tâm nhu nhuyến và dễ sử dụng ấy, định vô lượng được tu tập tốt đẹp. Vị ấy, với định vô lượng được tu tập tốt đẹp ấy, hướng tâm đến pháp nào cần được thắng tri và chứng ngộ, để thắng tri và chứng ngộ pháp ấy, vị ấy đạt được khả năng chứng ngộ ngay tại đó, khi có cơ sở (nhân duyên).
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ—ekopi hutvā bahudhā assaṁ, bahudhāpi hutvā eko assaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
They might wish: ‘May I wield the many kinds of psychic power: multiplying myself and becoming one again … controlling the body as far as the realm of divinity.’ They are capable of realizing it, since each and every one is within range.
Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ thể nghiệm các loại thần thông; từ một thân, ta hiện ra nhiều thân; từ nhiều thân, ta hiện ra một thân... vân vân... cho đến cõi Phạm thiên, ta sẽ dùng thân để làm chủ,’ vị ấy đạt được khả năng chứng ngộ ngay tại đó, khi có cơ sở (nhân duyên).
So sace ākaṅkhati: ‘dibbāya sotadhātuyā …pe… sati sati āyatane.
They might wish: ‘With clairaudience that is purified and superhuman, may I hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.’ They are capable of realizing it, since each and every one is within range.
Nếu vị ấy mong muốn: ‘Với thiên nhĩ giới...’ ... vân vân... khi có cơ sở (nhân duyên).
So sace ākaṅkhati: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ, sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ, sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajāneyyaṁ, samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajāneyyaṁ, vītamohaṁ vā cittaṁ … saṅkhittaṁ vā cittaṁ … vikkhittaṁ vā cittaṁ … mahaggataṁ vā cittaṁ … amahaggataṁ vā cittaṁ … sauttaraṁ vā cittaṁ … anuttaraṁ vā cittaṁ … samāhitaṁ vā cittaṁ … asamāhitaṁ vā cittaṁ … vimuttaṁ vā cittaṁ … avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
They might wish: ‘May I understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with my mind. May I understand mind with greed as “mind with greed”, and mind without greed as “mind without greed”; mind with hate as “mind with hate”, and mind without hate as “mind without hate”; mind with delusion as “mind with delusion”, and mind without delusion as “mind without delusion”; constricted mind … scattered mind … expansive mind … unexpansive mind … mind that is not supreme … mind that is supreme … mind immersed in samādhi … mind not immersed in samādhi … freed mind … and unfreed mind as “unfreed mind”.’ They are capable of realizing it, since each and every one is within range.
“Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ dùng tâm của mình bao trùm và thấu hiểu tâm của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Ta sẽ biết rõ tâm có tham là tâm có tham, tâm không có tham là tâm không có tham, tâm có sân là tâm có sân, tâm không có sân là tâm không có sân, tâm có si là tâm có si, tâm không có si là tâm không có si… tâm co rút… tâm tán loạn… tâm quảng đại… tâm không quảng đại… tâm hữu thượng… tâm vô thượng… tâm có định… tâm không có định… tâm giải thoát… tâm không giải thoát là tâm không giải thoát’, thì vị ấy có khả năng chứng ngộ được điều ấy ngay tại đó, khi có nhân duyên.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
They might wish: ‘May I recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: “There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.” May I recollect my many past lives, with features and details.’ They’re capable of realizing it, since each and every one is within range.
“Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, chẳng hạn như: một đời, hai đời… cho đến… như vậy, ta sẽ nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các khía cạnh và chi tiết của chúng’, thì vị ấy có khả năng chứng ngộ được điều ấy ngay tại đó, khi có nhân duyên.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajāneyyan’ti tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
They might wish: ‘With clairvoyance that is purified and superhuman, may I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place—and understand how sentient beings pass on according to their deeds.’ They’re capable of realizing it, since each and every one is within range.
“Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người… cho đến… ta sẽ biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ’, thì vị ấy có khả năng chứng ngộ được điều ấy ngay tại đó, khi có nhân duyên.
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane”ti.
Catutthaṁ.
They might wish: ‘May I realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.’ They’re capable of realizing it, since each and every one is within range.”
“Vị ấy nếu mong muốn: ‘Ta sẽ, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát’, thì vị ấy có khả năng chứng ngộ được điều ấy ngay tại đó, khi có nhân duyên.” Hết kinh thứ tư.