- Aṅguttara Nikāya 9.3
- 1. Sambodhivagga
Bản dịch
AN 9.3 — Tôn Gỉa Meghiya
Meghiyasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Càlikà, tại núi Càlikà. Lúc bấy giờ, Tôn giả Meghiya là người thị giả Thế Tôn. Rồi Tôn giả Meghiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con muốn đi vào làng Jantu để khất thực.
—Này Meghiya, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.
TTC 2Rồi Tôn giả Meghiya vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng Jantu để khất thực. Sau khi khất thực ở làng Jantu xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến bờ sông Kimikàlà, trong khi bộ hành, đi bách bộ qua lại trên bờ sông Kimikàla, Tôn giả Meghiya thấy một rừng xoài đẹp đẽ khả ái. Thấy vậy Tôn giả suy nghĩ: “Rừng xoài này thật là đẹp đẽ khả ái. Vậy thật là vừa đủ để cho thiện nam tử ưa thích tinh cần để tinh cần, và nếu Thế Tôn chấp thuận, ta sẽ đi đến rừng xoài này để tinh cần”.
TTC 3Rồi Tôn giả Meghiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên. Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, ở đây vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát và đi vào làng Jantu để khất thực. Ði khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, con đi đến bờ sông Kimikàlà. Bạch Thế Tôn, khi con bộ hành, đi bách bộ qua lại trên bờ sông Kimikàlà, con thấy một rừng xoài đẹp đẽ khả ái. Thấy vậy, con suy nghĩ như sau: “Rừng xoài này thật đẹp đẽ, khả ái. Vậy thật là vừa đủ cho thiện nam tử ưa thích tinh cần để tinh cần, và nếu Thế Tôn chấp thuận ta, ta sẽ đi đến rừng xoài ấy để tinh cần”.
—Hãy chờ đợi này Meghiya cho đến khi một Tỷ-kheo khác có mặt, vì chúng ta chỉ có một mình.
TTC 4Lần thứ hai, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn không có gì nữa cần phải làm thêm, không có cái gì cần phải làm thêm vào sự việc đã làm. Còn con, bạch Thế Tôn, có sự việc cần phải làm thêm, còn có việc cần phải làm thêm vào sự việc đã làm. Nếu Thế Tôn chấp thuận con, con sẽ đi đến rừng xoài ấy để tinh cần.
—Hãy chờ đợi này Maghiya, cho đến khi một Tỷ-kheo khác có mặt, vì chúng ta chỉ có một mình.
TTC 5Lần thứ ba, Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không có gì nữa cần phải làm thêm, không có cái gì cần phải thêm vào sự việc đã làm. Nếu Thế Tôn chấp thuận con, con sẽ đi đến rừng xanh xoài ấy để tinh cần.
—Này Meghia, khi Thầy đã nói tinh cần, thời chúng ta có thể còn nói gì nữa? Vậy này Meghiya, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.
TTC 6Rồi Tôn giả Meghiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, ra đi đến rừng xoài ấy, sau khi đến, đi sâu vào rừng xoài, rồi ngồi nghỉ ban ngày dưới một gốc cây. Trong khi Tôn giả Meghiya trú trong rừng ấy, phần lớn ba ác bất thiện tầm hiện hành, tức là dục tầm, sân tầm và hại tầm. Rồi Tôn giả Meghiya suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay. Ta vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng ba ác bất thiện tầm này xâm nhập tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm”.
TTC 7Rồi Tôn giả Meghiya đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên Tôn giả Meghiya bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống tại rừng xoài ấy, ba ác bất thiện tầm hiện hành, tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Ta vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng ba ác bất thiện tầm này xâm nhập, tức là dục tầm, sân tầm, hại tầm”.
—Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, năm pháp đưa đến thuần thục. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này Meghiya, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ nhất đưa đến thuần thục.
TTC 9Lại nữa, này Meghiya, Tỷ-kheo có giới, sống được bảo vệ sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ hai đưa đến thuần thục.
TTC 10Lại nữa, này Meghiya, câu chuyện này có khả năng đoạn giảm (hướng thượng) đưa đến tâm được rộng mở, như luận về ít dục, luận về biết đủ, luận về viễn ly, luận về không tụ hội, luận về tinh tấn tinh cần, luận về giới, luận về định, luận về tuệ, luận về giải thoát, luận về giải thoát tri kiến. Những câu chuyện như vậy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ ba đưa đến thuần thục.
TTC 11Lại nữa, này Meghiya, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để được đầy đủ các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ tư đưa đến thuần thục.
TTC 12Lại nữa, này Meghiya, có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập đi đến con đường đoạn tận khổ đau. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ năm đưa đến thuần thục.
TTC 13Này Meghiya, với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, được chờ đợi như sau: sẽ sống có giới, được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Này Meghiya, với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, được chờ đợi như sau: Câu chuyện này có khả năng đoạn giảm (hướng thượng) như luận về ít dục… Những câu chuyện như vậy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Này Meghiya, với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, được chờ đợi như sau: Vị ấy sẽ sống tinh cần tinh tấn… không từ bỏ trách nhiệm trong các thiện pháp. Này Meghiya, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, được chờ đợi như sau: Vị ấy sẽ có trí tuệ… chơn chánh đoạn tận khổ đau. Và này Meghiya, khi Tỷ-kheo ấy đến trú trong năm pháp này, bốn pháp nữa cần phải tu tập: tu tập tưởng bất tịnh để đoạn tận tham ái, tu tập từ bi để đoạn tận sân, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra để cắt đứt tầm, tu tập tưởng vô thường để phá hoại ngã mạn. Này Meghiya, với Tỷ-kheo có tưởng vô thưởng, tưởng vô ngã được tồn tại. Có tưởng vô ngã, thời ngã mạn bị phá hoại, ngay trong hiện tại đạt được Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.3
- 1. Awakening
With Meghiya
3. Kinh Meghiya
Ekaṁ samayaṁ bhagavā cālikāyaṁ viharati cālikāpabbate.
Tena kho pana samayena āyasmā meghiyo bhagavato upaṭṭhāko hoti. Atha kho āyasmā meghiyo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “icchāmahaṁ, bhante, jantugāmaṁ piṇḍāya pavisitun”ti.
“Yassadāni tvaṁ, meghiya, kālaṁ maññasī”ti.
At one time the Buddha was staying near Cālikā, on the Cālikā mountain.
Now, at that time Venerable Meghiya was the Buddha’s attendant. Then Venerable Meghiya went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, I’d like to enter Jantu village for alms.”
“Please, Meghiya, go at your convenience.”
3. Một thời, Thế Tôn trú ở Cālikā, tại núi Cālikā. Vào lúc ấy, Tôn giả Meghiya là thị giả của Thế Tôn. Bấy giờ, Tôn giả Meghiya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Tôn giả Meghiya bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, con muốn vào làng Jantu để khất thực.” “Này Meghiya, nay ông hãy làm những gì ông nghĩ là phải thời.”
Atha kho āyasmā meghiyo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya jantugāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Jantugāme piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena kimikāḷāya nadiyā tīraṁ tenupasaṅkami. Addasā kho āyasmā meghiyo kimikāḷāya nadiyā tīre jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno ambavanaṁ pāsādikaṁ ramaṇīyaṁ.
Disvānassa etadahosi: “pāsādikaṁ vatidaṁ ambavanaṁ ramaṇīyaṁ, alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāya. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, āgaccheyyāhaṁ imaṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
Then Meghiya robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Jantu village for alms. After the meal, on his return from almsround in Jantu village, he went to the shore of Kimikālā River. As he was going for a walk along the shore of the river he saw a lovely and delightful mango grove.
Seeing this, it occurred to him, “Oh, this mango grove is lovely and delightful! This is good enough for striving for a gentleman wanting to strive. If the Buddha allows me, I’ll come back to this mango grove to meditate.”
Bấy giờ, Tôn giả Meghiya vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào làng Jantu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở làng Jantu, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực trở về, ngài đi đến bờ sông Kimikāḷā. Tôn giả Meghiya thấy một khu vườn xoài khả ái, đáng vui thích trong khi đi kinh hành, đi tới đi lui ở bờ sông Kimikāḷā. Sau khi thấy, ngài khởi lên ý nghĩ này: “Khu vườn xoài này thật khả ái, thật đáng vui thích! Thật thích hợp cho thiện nam tử có ý muốn tinh cần, để nỗ lực tinh cần. Nếu Thế Tôn cho phép, ta sẽ đến khu vườn xoài này để nỗ lực tinh cần.”
Atha kho āyasmā meghiyo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya jantugāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Jantugāme piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena kimikāḷāya nadiyā tīraṁ tenupasaṅkamiṁ. Addasaṁ kho ahaṁ, bhante, kimikāḷāya nadiyā tīre jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno ambavanaṁ pāsādikaṁ ramaṇīyaṁ. Disvāna me etadahosi: ‘pāsādikaṁ vatidaṁ ambavanaṁ ramaṇīyaṁ. Alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāya. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, āgaccheyyāhaṁ imaṁ ambavanaṁ padhānāyā’ti. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, gaccheyyāhaṁ taṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
Then Venerable Meghiya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding, “If the Buddha allows me, I’ll go back to that mango grove to meditate.”
Bấy giờ, Tôn giả Meghiya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Meghiya bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, ở đây, con vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào làng Jantu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở làng Jantu, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực trở về, con đi đến bờ sông Kimikāḷā. Bạch Thế Tôn, trong khi đi kinh hành, đi tới đi lui ở bờ sông Kimikāḷā, con đã thấy một khu vườn xoài khả ái, đáng vui thích. Sau khi thấy, con khởi lên ý nghĩ này: ‘Khu vườn xoài này thật khả ái, thật đáng vui thích! Thật thích hợp cho thiện nam tử có ý muốn tinh cần, để nỗ lực tinh cần. Nếu Thế Tôn cho phép, ta sẽ đến khu vườn xoài này để nỗ lực tinh cần.’ Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ đi đến khu vườn xoài ấy để nỗ lực tinh cần.” “Này Meghiya, hãy đợi đã! Ta đang một mình, hãy đợi cho đến khi có một vị tỳ khưu khác đến.”
“Āgamehi tāva, meghiya. Ekakamhi tāva yāva aññopi koci bhikkhu āgacchatī”ti.
Dutiyampi kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “bhagavato, bhante, natthi kiñci uttari karaṇīyaṁ, natthi katassa paṭicayo. Mayhaṁ kho pana, bhante, atthi uttari karaṇīyaṁ, atthi katassa paṭicayo. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, gaccheyyāhaṁ taṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
“Āgamehi tāva, meghiya, ekakamhi tāva yāva aññopi koci bhikkhu āgacchatī”ti.
“We’re alone, Meghiya. Wait until another mendicant comes.”
For a second time Meghiya said to the Buddha, “Sir, the Buddha has nothing more to do, and nothing that needs improvement. But I have. If you allow me, I’ll go back to that mango grove to meditate.”
“We’re alone, Meghiya. Wait until another mendicant comes.”
Lần thứ hai, Tôn giả Meghiya bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, không có việc gì cao hơn cần phải làm, không có sự vun bồi cho những gì đã làm. Nhưng bạch Thế Tôn, đối với con, vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm, vẫn còn có sự vun bồi cho những gì đã làm. Nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ đi đến khu vườn xoài ấy để nỗ lực tinh cần.” “Này Meghiya, hãy đợi đã! Ta đang một mình, hãy đợi cho đến khi có một vị tỳ khưu khác đến.”
Tatiyampi kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “bhagavato, bhante, natthi kiñci uttari karaṇīyaṁ, natthi katassa paṭicayo. Mayhaṁ kho pana, bhante, atthi uttari karaṇīyaṁ, atthi katassa paṭicayo. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, gaccheyyāhaṁ taṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
“Padhānanti kho, meghiya, vadamānaṁ kinti vadeyyāma. Yassadāni tvaṁ, meghiya, kālaṁ maññasī”ti.
For a third time Meghiya said to the Buddha, “Sir, the Buddha has nothing more to do, and nothing that needs improvement. But I have. If you allow me, I’ll go back to that mango grove to meditate.”
“Meghiya, since you speak of striving in meditation, what can I say? Please, Meghiya, go at your convenience.”
Lần thứ ba, Tôn giả Meghiya bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, không có việc gì cao hơn cần phải làm, không có sự vun bồi cho những gì đã làm. Nhưng bạch Thế Tôn, đối với con, vẫn còn có việc cao hơn cần phải làm, vẫn còn có sự vun bồi cho những gì đã làm. Nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ đi đến khu vườn xoài ấy để nỗ lực tinh cần.” “Này Meghiya, đối với người đang nói ‘để nỗ lực tinh cần’, thì chúng ta có thể nói gì được đây! Này Meghiya, nay ông hãy làm những gì ông nghĩ là phải thời.”
Atha kho āyasmā meghiyo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena taṁ ambavanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ ambavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi. Atha kho āyasmato meghiyassa tasmiṁ ambavane viharantassa yebhuyyena tayo pāpakā akusalā vitakkā samudācaranti, seyyathidaṁ—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko.
Atha kho āyasmato meghiyassa etadahosi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Saddhāya ca vatamhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā; atha ca panimehi tīhi pāpakehi akusalehi vitakkehi anvāsattā—kāmavitakkena, byāpādavitakkena, vihiṁsāvitakkenā”ti.
Then Meghiya got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went to that mango grove, and, having plunged deep into it, sat at the root of a certain tree for the day’s meditation. But while Meghiya was meditating in that mango grove he was beset mostly by three kinds of bad, unskillful thoughts, namely, sensual, malicious, and cruel thoughts.
Then he thought, “Oh lord, how incredible, how amazing! I’ve gone forth out of faith from the lay life to homelessness, but I’m still harassed by these three kinds of bad, unskillful thoughts: sensual, malicious, and cruel thoughts.”
Bấy giờ, Tôn giả Meghiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi đi đến khu vườn xoài. Sau khi đến, ngài đi sâu vào khu vườn xoài ấy và ngồi xuống dưới một gốc cây để an trú ban ngày. Bấy giờ, trong khi Tôn giả Meghiya đang an trú tại khu vườn xoài ấy, phần lớn có ba loại tầm bất thiện, xấu xa khởi lên, tức là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm. Bấy giờ, Tôn giả Meghiya khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật là kỳ diệu, thưa các ngài! Thật là hy hữu, thưa các ngài! Chúng ta quả thật đã vì đức tin mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình; thế mà lại bị ba loại tầm bất thiện, xấu xa này đeo bám: dục tầm, sân tầm, và hại tầm.’
Atha kho āyasmā meghiyo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca:
Then Venerable Meghiya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Bấy giờ, Tôn giả Meghiya đi đến nơi đức Thế Tôn ngự. Sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi thích hợp. Sau khi đã ngồi xuống một nơi thích hợp, Tôn giả Meghiya bạch với đức Thế Tôn lời này:
“Idha mayhaṁ, bhante, tasmiṁ ambavane viharantassa yebhuyyena tayo pāpakā akusalā vitakkā samudācaranti, seyyathidaṁ—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Saddhāya ca vatamhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā; atha ca panimehi tīhi pāpakehi akusalehi vitakkehi anvāsattā—kāmavitakkena, byāpādavitakkena, vihiṁsāvitakkenā’”ti.
‘Bạch ngài, ở đây, trong khi con đang an trú tại khu vườn xoài ấy, phần lớn có ba loại tầm bất thiện, xấu xa khởi lên, tức là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm. Bạch ngài, đối với con đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật là kỳ diệu, thưa các ngài! Thật là hy hữu, thưa các ngài! Chúng ta quả thật đã vì đức tin mà xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình; thế mà lại bị ba loại tầm bất thiện, xấu xa này đeo bám: dục tầm, sân tầm, và hại tầm.’’
“Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā pañca dhammā paripakkāya saṁvattanti. Katame pañca?
Idha, meghiya, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ paṭhamo dhammo paripakkāya saṁvattati.
“Meghiya, when the heart’s release is not ripe, five things help it ripen. What five?
Firstly, a mendicant has good friends, companions, and associates. This is the first thing …
‘Này Meghiya, có năm pháp đưa đến sự thuần thục cho tâm giải thoát chưa thuần thục. Năm pháp ấy là gì? Này Meghiya, ở đây, vị Tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng thân cận bạn lành. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ nhất đưa đến sự thuần thục.
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ dutiyo dhammo paripakkāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is the second thing …
‘Lại nữa, này Meghiya, vị Tỳ khưu có giới hạnh, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi lầm nhỏ nhặt, thọ trì và tu học trong các học giới. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ hai đưa đến sự thuần thục.
Puna caparaṁ, meghiya, yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpiyā kathāya nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ tatiyo dhammo paripakkāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant gets to take part in talk about self-effacement that helps open the heart, when they want, without trouble or difficulty. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom. This is the third thing …
‘Lại nữa, này Meghiya, vị Tỳ khưu là người dễ dàng có được theo ý muốn, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc những câu chuyện có tác dụng làm giảm thiểu phiền não, thích hợp cho việc mở mang tâm trí, tức là: câu chuyện về thiểu dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về độc cư, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ ba đưa đến sự thuần thục.
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ catuttho dhammo paripakkāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. This is the fourth thing …
‘Lại nữa, này Meghiya, vị Tỳ khưu sống tinh cần để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; có sức mạnh, có sự nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ tư đưa đến sự thuần thục.
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ pañcamo dhammo paripakkāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is the fifth thing that, when the heart’s release is not ripe, helps it ripen.
‘Lại nữa, này Meghiya, vị Tỳ khưu có trí tuệ, thành tựu trí tuệ thấy được sự sinh diệt, là trí tuệ thánh thiện, có khả năng đâm thủng phiền não, đưa đến sự chấm dứt khổ một cách chân chánh. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ năm đưa đến sự thuần thục.
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa: ‘sīlavā bhavissati …pe… samādāya sikkhissati sikkhāpadesu’.
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to be ethical …
‘Này Meghiya, đối với vị Tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng thân cận bạn lành, điều này cần được mong đợi: ‘Vị ấy sẽ là người có giới hạnh... (như trên)... sẽ thọ trì và tu học trong các học giới.’
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa: ‘yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā …pe… vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpiyā kathāya nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhī’.
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to take part in talk about self-effacement that helps open the heart …
‘Này Meghiya, đối với vị Tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng thân cận bạn lành, điều này cần được mong đợi: ‘Vị ấy sẽ là người dễ dàng có được theo ý muốn, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc những câu chuyện có tác dụng làm giảm thiểu phiền não, thích hợp cho việc mở mang tâm trí, tức là: câu chuyện về thiểu dục... (như trên)... câu chuyện về giải thoát tri kiến.’
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa: ‘āraddhavīriyo viharissati …pe… anikkhittadhuro kusalesu dhammesu’.
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa: ‘paññavā bhavissati …pe… sammādukkhakkhayagāminiyā’.
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to be energetic …
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to be wise …
‘Này Meghiya, đối với vị Tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng thân cận bạn lành, điều này cần được mong đợi: ‘Vị ấy sẽ sống tinh cần... (như trên)... không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện.’
Tena ca pana, meghiya, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro dhammā uttari bhāvetabbā—asubhā bhāvetabbā rāgassa pahānāya, mettā bhāvetabbā byāpādassa pahānāya, ānāpānassati bhāvetabbā vitakkupacchedāya, aniccasaññā bhāvetabbā asmimānasamugghātāya. Aniccasaññino, meghiya, anattasaññā saṇṭhāti. Anattasaññī asmimānasamugghātaṁ pāpuṇāti diṭṭheva dhamme nibbānan”ti.
Tatiyaṁ.
But then, a mendicant grounded on these five things should develop four further things. They should develop the perception of ugliness to give up greed, love to give up hate, mindfulness of breathing to cut off thinking, and perception of impermanence to uproot the conceit ‘I am’. When you perceive impermanence, the perception of not-self becomes stabilized. Perceiving not-self, you uproot the conceit ‘I am’ and attain extinguishment in this very life.”
‘Hơn nữa, này Meghiya, vị Tỳ khưu ấy, sau khi đã an trú trong năm pháp này, cần phải tu tập thêm bốn pháp nữa: Cần tu tập về sự bất tịnh để đoạn trừ tham ái, cần tu tập về tâm từ để đoạn trừ sân hận, cần tu tập về niệm hơi thở vào ra để cắt đứt các tầm, cần tu tập về tưởng vô thường để nhổ bật ngã mạn. Này Meghiya, đối với người có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được thiết lập. Người có tưởng vô ngã đạt đến sự nhổ bật ngã mạn, (đạt đến) Niết-bàn ngay trong hiện tại.’ Hết kinh thứ ba.