- Aṅguttara Nikāya 9.4
- 1. Sambodhivagga
Bản dịch
AN 9.4 — Tôn Giả Nandaka
Nandakasutta
TTC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo trong hội trường, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
TTC 2Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, đứng ngoài cửa hội trường, chờ đợi cho cuộc thuyết giảng chấm dứt. Biết được bài giảng đã chấm dứt, Thế Tôn đằng hắng và gõ vào then cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào hội trường và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn bảo Tôn giả Nandaka:
—Dài thay, này Nandaka là pháp môn này, Thầy đã giảng cho các Tỷ-kheo! Lưng Ta đã mỏi khi đứng ở ngoài cửa, chờ cho buổi thuyết giảng chấm dứt.
TTC 3Khi được nói vậy, Tôn giả Nandaka lấy làm bối rối bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con không biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa. Nếu chúng con biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa, thời chúng con đã không nói dài như vậy.
Thế Tôn sau khi biết tâm trạng bối rối của Tôn giả Nandaka liền nói với Tôn giả Nandaka:
—Lành thay, lành thay, này Nandaka! Thật là xứng đáng cho các thiện nam tử các Thầy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Thầy ngồi lại với nhau để nghe pháp. Này Nandaka, khi các Thầy hội họp với nhau, này Nandaka, có hai việc cần phải làm: nói pháp hay giữ yên lặng của bậc Thánh. Này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin nhưng không có giới, như vậy vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ chi phần ấy: “Làm thế nào ta có lòng tin và cả giới nữa?”. Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin và có giới, như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy. Và này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin và có giới, nhưng nội tâm không được tịnh chỉ; như vậy vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ về chi phần ấy: “Làm thế nào ta có lòng tin và cả giới và có nội tâm tịnh chỉ?”. Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới và có được tâm tịnh chỉ; như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy. Và này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nội tâm được tịnh chỉ, nhưng không được tăng thượng tuệ pháp quán, như vậy, vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ về chi phần ấy: “Làm thế nào ta có lòng tin, có giới, có được nội tâm tịnh chỉ, và có được tăng thượng tuệ pháp quán?” Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có được nội tâm tịnh chỉ, và có được tăng thượng tuệ pháp quán, như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói như vậy xong, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, bước vào tinh xá.
TTC 4Rồi Tôn giả Nandaka khi Thế Tôn đi không bao lâu gọi các Tỷ-kheo:
—Này, này chư Hiền, Thế Tôn với bốn câu, sau khi thuyết trình Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá. “Này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin… như vậy, vị ấy được đầy đủ với chi phần ấy”.
Này chư Hiền, có năm lợi ích này, do nghe pháp đúng thời và luận đàm về pháp đúng thời. Thế nào là năm?
TTC 5Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện… đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy ái mộ bậc Ðạo Sư, thích ý, kính trọng và noi gương theo. Thưa chư Hiền, đây là lợi ích thứ nhất, do đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
TTC 6Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn.. đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện… đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy thọ trì về nghĩa, thọ trì về pháp. Thưa chư Hiền, đây là lợi ích thứ hai, do đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
TTC 7Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện… đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị ấy thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện… đầy đủ trong sạch, này chư Hiền, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy, sau khi thể nhập nghĩa cú thâm sâu trong pháp ấy, vị ấy thấy. Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ ba, do nghe pháp đúng thời và đàm luận về pháp đúng thời.
TTC 8Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện… đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị ấy thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện… đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, các vị đồng Phạm hạnh tôn trọng noi gương thêm nữa, nghĩ rằng: “Vị ấy đã chứng hay sẽ chứng”. Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ tư, do nghe pháp đúng thời và đàm luận về pháp đúng thời.
TTC 9Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Ở đây, ở đây các Tỷ-kheo nào là hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, họ được nghe pháp ấy, khởi lên tinh tấn để chứng đạt được những gì chưa được chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa được chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa được chứng ngộ. Còn các Tỷ-kheo nào ở đây là các bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Những vị ấy sau khi nghe pháp, sống chú tâm vào hiện tại lạc trú. Này chư Hiền, đây là lợi ích thứ năm, do nghe pháp đúng thời và do đàm luận về pháp đúng thời.
Này chư Hiền, đó là năm lợi ích do nghe pháp đúng thời, và do đàm luận về pháp đúng thời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.4
- 1. Awakening
With Nandaka
4. 4. Kinh Nandaka
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā nandako upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhū dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhāsi kathāpariyosānaṁ āgamayamāno. Atha kho bhagavā kathāpariyosānaṁ viditvā ukkāsetvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivariṁsu kho te bhikkhū bhagavato dvāraṁ.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time Venerable Nandaka was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk. Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He stood outside the door waiting for the talk to end. When he knew the talk had ended he cleared his throat and knocked on the door-panel. The mendicants opened the door for the Buddha,
4. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang ở trong giảng đường, dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, và làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài đứng bên ngoài cổng, chờ đợi pháp thoại kết thúc. Rồi Thế Tôn, khi biết pháp thoại đã kết thúc, bèn hắng giọng và gõ vào cửa. Các Tỳ khưu ấy đã mở cửa cho Thế Tôn.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ nandakaṁ etadavoca: “dīgho kho tyāyaṁ, nandaka, dhammapariyāyo bhikkhūnaṁ paṭibhāsi. Api me piṭṭhi āgilāyati bahidvārakoṭṭhake ṭhitassa kathāpariyosānaṁ āgamayamānassā”ti.
He said to Nandaka, “Nandaka, that was a long exposition of the teaching you gave to the mendicants. My back was aching while I stood outside the door waiting for the talk to end.”
Rồi Thế Tôn đi vào giảng đường và ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Nandaka: 'Này Nandaka, bài pháp này của ông thuyết cho các Tỳ khưu thật là dài. Lưng của Ta đã mỏi khi đứng bên ngoài cổng chờ đợi pháp thoại kết thúc.'
Evaṁ vutte, āyasmā nandako sārajjamānarūpo bhagavantaṁ etadavoca: “na kho pana mayaṁ, bhante, jānāma ‘bhagavā bahidvārakoṭṭhake ṭhito’ti. Sace hi mayaṁ, bhante, jāneyyāma ‘bhagavā bahidvārakoṭṭhake ṭhito’ti, ettakampi (…) no nappaṭibhāseyyā”ti.
When he said this, Nandaka felt embarrassed and said to the Buddha, “Sir, we didn’t know that the Buddha was standing outside the door. If we’d known, I wouldn’t have said so much.”
Khi được nói vậy, Tôn giả Nandaka, với vẻ bối rối, bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, chúng con thật không biết rằng Thế Tôn đang đứng bên ngoài cổng. Bạch Thế Tôn, nếu chúng con đã biết rằng Thế Tôn đang đứng bên ngoài cổng, thì chúng con đã không thuyết dài đến như vậy.'
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nandakaṁ sārajjamānarūpaṁ viditvā āyasmantaṁ nandakaṁ etadavoca: “sādhu sādhu, nandaka. Etaṁ kho, nandaka, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ saddhāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ, yaṁ tumhe dhammiyā kathāya sannisīdeyyātha. Sannipatitānaṁ vo, nandaka, dvayaṁ karaṇīyaṁ—dhammī vā kathā ariyo vā tuṇhībhāvo.
Saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti, no ca sīlavā. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ: ‘kintāhaṁ saddho ca assaṁ sīlavā cā’ti. Yato ca kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca, evaṁ so tenaṅgena paripūro hoti.
Then the Buddha, knowing that Nandaka was embarrassed, said to him, “Good, good, Nandaka! It’s appropriate for gentlemen like you, who have gone forth out of faith from the lay life to homelessness, to sit together for a Dhamma talk. When you’re sitting together you should do one of two things: discuss the teachings or keep noble silence.
Nandaka, a mendicant is faithful but not ethical. So they’re incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking, ‘How can I become faithful and ethical?’ When a mendicant is faithful and ethical, they’re complete in that respect.
Rồi Thế Tôn, khi biết Tôn giả Nandaka đang có vẻ bối rối, bèn nói với Tôn giả Nandaka: 'Lành thay, lành thay, Nandaka! Này Nandaka, thật là thích hợp cho các thiện nam tử như các ông, những người vì lòng tin đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, việc các ông cùng nhau ngồi lại với pháp thoại. Này Nandaka, khi các ông tụ họp, có hai việc nên làm: hoặc là pháp thoại, hoặc là sự im lặng thánh thiện. Này Nandaka, một Tỳ khưu có tín, nhưng không có giới. Như vậy, vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy. Phương diện ấy cần được vị ấy làm cho trọn vẹn: 'Làm sao để ta vừa có tín, vừa có giới?' Và này Nandaka, khi nào một Tỳ khưu vừa có tín, vừa có giới, như vậy vị ấy là trọn vẹn ở phương diện ấy.
Saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti sīlavā ca, no ca lābhī ajjhattaṁ cetosamādhissa. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ: ‘kintāhaṁ saddho ca assaṁ sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissā’ti. Yato ca kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, evaṁ so tenaṅgena paripūro hoti.
A mendicant is faithful and ethical, but does not get internal serenity of heart. So they’re incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking, ‘How can I become faithful and ethical and get internal serenity of heart?’ When a mendicant is faithful and ethical and gets internal serenity of heart, they’re complete in that respect.
Này Nandaka, một Tỳ khưu có tín và có giới, nhưng không đạt được định tâm nội tại. Như vậy, vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy. Phương diện ấy cần được vị ấy làm cho trọn vẹn: 'Làm sao để ta vừa có tín, vừa có giới, và vừa đạt được định tâm nội tại?' Và này Nandaka, khi nào một Tỳ khưu vừa có tín, vừa có giới, và vừa đạt được định tâm nội tại, như vậy vị ấy là trọn vẹn ở phương diện ấy.
Saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāya. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Seyyathāpi, nandaka, pāṇako catuppādako assa. Tassa eko pādo omako lāmako. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro assa. Evamevaṁ kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāya. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ: ‘kintāhaṁ saddho ca assaṁ sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāyā’ti.
A mendicant is faithful, ethical, and gets internal serenity of heart, but they don’t get the higher wisdom of discernment of principles. So they’re incomplete in that respect. Suppose, Nandaka, there was a four-footed animal that was lame and disabled. It would be incomplete in that respect. In the same way, a mendicant is faithful, ethical, and gets internal serenity of heart, but they don’t get the higher wisdom of discernment of principles. So they’re incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking, ‘How can I become faithful and ethical and get internal serenity of heart and get the higher wisdom of discernment of principles?’
Này Nandaka, một Tỳ khưu có tín, có giới, và đạt được định tâm nội tại, nhưng không đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng. Như vậy, vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy. Ví như, này Nandaka, có một con vật bốn chân. Một chân của nó bị yếu kém, thiếu sót. Như vậy, nó không trọn vẹn ở phương diện ấy. Cũng vậy, này Nandaka, một Tỳ khưu có tín, có giới, và đạt được định tâm nội tại, nhưng không đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng. Như vậy, vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy. Phương diện ấy cần được vị ấy làm cho trọn vẹn: 'Làm sao để ta vừa có tín, vừa có giới, vừa đạt được định tâm nội tại, và vừa đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng?'
Yato ca kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya, evaṁ so tenaṅgena paripūro hotī”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
When a mendicant is faithful and ethical and gets internal serenity of heart and gets the higher wisdom of discernment of principles, they’re complete in that respect.”
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
Và này Nandaka, khi nào một Tỳ khưu vừa có tín, vừa có giới, vừa đạt được định tâm nội tại, và vừa đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, như vậy vị ấy là trọn vẹn ở phương diện ấy.' Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói vậy, bậc Thiện Thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.
Atha kho āyasmā nandako acirapakkantassa bhagavato bhikkhū āmantesi: “idāni, āvuso, bhagavā catūhi padehi kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
‘saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti, no ca sīlavā. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ—kintāhaṁ saddho ca assaṁ sīlavā cā’ti. Yato ca kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca, evaṁ so tenaṅgena paripūro hoti.
Saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti sīlavā ca, no ca lābhī ajjhattaṁ cetosamādhissa …pe…
lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāya, evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Seyyathāpi, nandaka, pāṇako catuppādako assa, tassa eko pādo omako lāmako, evaṁ so tenaṅgena aparipūro assa. Evamevaṁ kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca, lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāya, evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti, tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ ‘kintāhaṁ saddho ca assaṁ sīlavā ca, lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, lābhī ca adhipaññādhammavipassanāyā’ti. Yato ca kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya, evaṁ so tenaṅgena paripūro hotīti.
Then, not long after the Buddha left, Venerable Nandaka said to the mendicants, “Just now, reverends, the Buddha revealed a spiritual practice that’s entirely full and pure in four statements, before getting up from his seat and entering his dwelling:
‘Nandaka, a mendicant is faithful but not ethical. So they’re incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking, “How can I become faithful and ethical?” When a mendicant is faithful and ethical, they’re complete in that respect.
A mendicant is faithful and ethical, but does not get internal serenity of heart. …
They get internal serenity of heart, but they don’t get the higher wisdom of discernment of principles. So they’re incomplete in that respect. Suppose, Nandaka, there was a four-footed animal that was lame and disabled. It would be incomplete in that respect. In the same way, a mendicant is faithful, ethical, and gets internal serenity of heart, but they don’t get the higher wisdom of discernment of principles. So they’re incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking: “How can I become faithful and ethical and get internal serenity of heart and get the higher wisdom of discernment of principles?” When a mendicant is faithful and ethical and gets internal serenity of heart and gets the higher wisdom of discernment of principles, they’re complete in that respect.’
Rồi Tôn giả Nandaka, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, đã nói với các Tỳ khưu: 'Này chư Hiền, vừa rồi Thế Tôn, sau khi đã tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh qua bốn phương diện, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá: 'Này Nandaka, một Tỳ khưu có tín, nhưng không có giới. Như vậy, vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy. Phương diện ấy cần được vị ấy làm cho trọn vẹn: 'Làm sao để ta vừa có tín, vừa có giới?' Và này Nandaka, khi nào một Tỳ khưu vừa có tín, vừa có giới, như vậy vị ấy là trọn vẹn ở phương diện ấy. Này Nandaka, một Tỳ khưu có tín và có giới, nhưng không đạt được định tâm nội tại... (lược)... và đạt được định tâm nội tại, nhưng không đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, như vậy vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy. Ví như, này Nandaka, có một con vật bốn chân, một chân của nó bị yếu kém, thiếu sót, như vậy nó không trọn vẹn ở phương diện ấy. Cũng vậy, này Nandaka, một Tỳ khưu có tín, có giới, và đạt được định tâm nội tại, nhưng không đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, như vậy vị ấy không trọn vẹn ở phương diện ấy, phương diện ấy cần được vị ấy làm cho trọn vẹn: 'Làm sao để ta vừa có tín, vừa có giới, vừa đạt được định tâm nội tại, và vừa đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng?' Và này Nandaka, khi nào một Tỳ khưu vừa có tín, vừa có giới, vừa đạt được định tâm nội tại, và vừa đạt được tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, như vậy vị ấy là trọn vẹn ở phương diện ấy.'
Pañcime, āvuso, ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya. Katame pañca?
Idhāvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti tathā tathā so satthu piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca. Ayaṁ, āvuso, paṭhamo ānisaṁso kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya.
Reverends, there are these five benefits of listening to the teachings at the right time and discussing the teachings at the right time. What five?
Firstly, a mendicant teaches Dhamma to the mendicants that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Whenever they do this, they become liked and approved by the Teacher, respected and admired. This is the first benefit …
Này chư hiền, có năm lợi ích này trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp. Thế nào là năm? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này chư hiền, khi nào vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, thì khi ấy vị ấy được Bậc Đạo Sư yêu mến, quý trọng, kính nể, và đáng được phát triển. Này chư hiền, đây là lợi ích thứ nhất trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ …pe… brahmacariyaṁ pakāseti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammappaṭisaṁvedī ca. Ayaṁ, āvuso, dutiyo ānisaṁso kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya.
Furthermore, a mendicant teaches the mendicants the Dhamma … Whenever they do this, they feel inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma. This is the second benefit …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này chư hiền, khi nào vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu... cho đến... vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh, thì khi ấy vị ấy trở thành người thông hiểu ý nghĩa và thông hiểu pháp trong giáo pháp ấy. Này chư hiền, đây là lợi ích thứ hai trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ …pe… brahmacariyaṁ pakāseti tathā tathā so tasmiṁ dhamme gambhīraṁ atthapadaṁ paññāya ativijjha passati. Ayaṁ, āvuso, tatiyo ānisaṁso kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya.
Furthermore, a mendicant teaches the mendicants the Dhamma … Whenever they do this, they see the meaning of a deep saying in that Dhamma with penetrating wisdom. This is the third benefit …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này chư hiền, khi nào vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu... cho đến... vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh, thì khi ấy vị ấy dùng trí tuệ thấy và thâm nhập vào nghĩa cú sâu xa trong giáo pháp ấy. Này chư hiền, đây là lợi ích thứ ba trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ …pe… brahmacariyaṁ pakāseti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ …pe… brahmacariyaṁ pakāseti tathā tathā naṁ sabrahmacārī uttari sambhāventi: ‘addhā ayamāyasmā patto vā pajjati vā’. Ayaṁ, āvuso, catuttho ānisaṁso kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya.
Furthermore, a mendicant teaches the mendicants the Dhamma … Whenever they do this, their spiritual companions esteem them more highly, thinking, ‘For sure this venerable has attained or will attain.’ This is the fourth benefit …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu... cho đến... vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh. Này chư hiền, khi nào vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu... cho đến... vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh, thì khi ấy các vị đồng phạm hạnh tán thán vị ấy một cách cao thượng rằng: ‘Chắc chắn vị tôn giả này đã đắc chứng hoặc sẽ đắc chứng.’ Này chư hiền, đây là lợi ích thứ tư trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti, tattha ye kho bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, te taṁ dhammaṁ sutvā vīriyaṁ ārabhanti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Ye pana tattha bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, te taṁ dhammaṁ sutvā diṭṭhadhammasukhavihāraṁyeva anuyuttā viharanti. Ayaṁ, āvuso, pañcamo ānisaṁso kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya.
Ime kho, āvuso, pañca ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāyā”ti.
Catutthaṁ.
Furthermore, a mendicant teaches the mendicants the Dhamma … Whenever they do this, there may be trainee mendicants present, who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. Hearing that teaching, they rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. There may be perfected mendicants present, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. Hearing that teaching, they simply live happily in this life. This is the fifth benefit …
These are the five benefits of listening to the teachings at the right time and discussing the teachings at the right time.”
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này chư hiền, khi nào vị tỳ khưu thuyết pháp cho các vị tỳ khưu, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, thì ở đó, những vị tỳ khưu nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống với mong muốn đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược, sau khi nghe pháp ấy, các vị ấy khởi sự tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, để thực chứng điều chưa thực chứng. Còn những vị tỳ khưu nào ở đó là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, sau khi nghe pháp ấy, các vị ấy sống chuyên tâm vào sự an trú trong hạnh phúc hiện tại. Này chư hiền, đây là lợi ích thứ năm trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp. Này chư hiền, đây chính là năm lợi ích trong việc đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.