- Aṅguttara Nikāya 9.2
- 1. Sambodhivagga
Bản dịch
AN 9.2 — Y Chỉ
Nissayasutta
TTC 1Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ðầy đủ y chỉ, đầy đủ y chỉ, bạch Thế Tôn, được nói lên như vậy. Bạch Thế Tôn cho đến như thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ?
TTC 2—Nếu Tỷ-kheo y chỉ lòng tin, đoạn tận bất thiện tu tập thiện, như vậy, với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Nếu Tỷ-kheo y chỉ tàm (xấu hổ)… nếu Tỷ-kheo y chỉ sợ hãi… nếu Tỷ-kheo y chỉ tinh tấn… nếu Tỷ-kheo y chỉ trí tuệ, đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, như vậy với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Như vậy Tỷ-kheo ấy đã đoạn tận, đã khéo đoạn tận bất thiện, khi bất thiện ấy được thấy với Thánh trí tuệ và được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, sau khi Tỷ-kheo ấy an trú trong năm pháp này, có bốn pháp nữa vị ấy phải y chỉ. Thế nào là bốn?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi cân nhắc (ước lượng), thực hành một sự, sau khi cân nhắc, kham nhẫn một sự, sau khi cân nhắc, từ bỏ một sự, sau khi cân nhắc, trừ sạch một sự. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.2
- 1. Awakening
Supported
2. Kinh Cận Y Duyên
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘nissayasampanno nissayasampanno’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu nissayasampanno hotī”ti?
“Saddhañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya akusalaṁ pajahati kusalaṁ bhāveti, pahīnamevassa taṁ akusalaṁ hoti.
Hiriñce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
ottappañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
vīriyañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
paññañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya akusalaṁ pajahati kusalaṁ bhāveti, pahīnamevassa taṁ akusalaṁ hoti. Taṁ hissa bhikkhuno akusalaṁ pahīnaṁ hoti suppahīnaṁ, yaṁsa ariyāya paññāya disvā pahīnaṁ.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of being ‘supported’. How is a mendicant who is supported defined?”
“Mendicant, if a mendicant supported by faith gives up the unskillful and develops the skillful, the unskillful is actually given up by them.
If a mendicant supported by conscience …
If a mendicant supported by prudence …
If a mendicant supported by energy …
If a mendicant supported by wisdom gives up the unskillful and develops the skillful, the unskillful is actually given up by them. What’s been given up is completely given up when it has been given up by seeing with noble wisdom.
2. Bấy giờ, có một vị tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ... vân vân ... ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, có câu nói: ‘người đầy đủ nơi nương tựa, người đầy đủ nơi nương tựa’. Bạch Thế Tôn, do mức độ nào, một vị tỳ khưu được xem là người đầy đủ nơi nương tựa?” “Này tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu nương vào tín, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện, thì điều bất thiện ấy của vị ấy được xem là đã được từ bỏ. Này tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu nương vào tàm ... vân vân ... Này tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu nương vào quý ... vân vân ... Này tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu nương vào tinh tấn ... vân vân ... Này tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu nương vào tuệ, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện, thì điều bất thiện ấy của vị ấy được xem là đã được từ bỏ. Thật vậy, điều bất thiện ấy của vị tỳ khưu ấy đã được từ bỏ, đã được khéo từ bỏ, là điều đã được từ bỏ sau khi đã thấy bằng trí tuệ bậc thánh.”
Tena ca pana, bhikkhu, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro upanissāya vihātabbā. Katame cattāro? Idha, bhikkhu, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti. Evaṁ kho, bhikkhu, bhikkhu nissayasampanno hotī”ti.
Dutiyaṁ.
But then, a mendicant grounded on these five things should rely on four things. What four? After appraisal, a mendicant uses some things, endures some things, avoids some things, and dispels some things. That’s how a mendicant is supported.”
“Và này tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, sau khi đã an trú trong năm pháp này, cần phải sống nương vào bốn điều. Bốn điều nào? Ở đây, này tỳ khưu, vị tỳ khưu sau khi suy xét, sử dụng một thứ; sau khi suy xét, chịu đựng một thứ; sau khi suy xét, tránh né một thứ; sau khi suy xét, loại trừ một thứ. Này tỳ khưu, như vậy vị tỳ khưu là người đầy đủ nơi nương tựa.” (Kinh thứ hai).