- Aṅguttara Nikāya 9.28
- 3. Sattāvāsavagga
Bản dịch
AN 9.28 — Sợ Hãi Hận Thù (2)
Dutiyaverasutta
(Thế Tôn thuyết lại kinh 26 cho các Tỷ-kheo).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.28
- 3. Abodes of Sentient Beings
Fears and Enmities (2nd)
8. Bài kinh Oán Thù thứ hai
“Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, catūhi ca sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
“Mendicants, when a noble disciple has quelled five fears and enmities, and possesses the four factors of stream-entry, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’
28. “Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử đã làm lắng dịu năm sự sợ hãi và oán thù, và đã thành tựu bốn chi phần Dự Lưu, vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đã đoạn tận cảnh giới súc sinh, đã đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta là bậc Dự Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ đạt đến giác ngộ.’”
Katamāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti? Yaṁ, bhikkhave, pāṇātipātī pāṇātipātapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, pāṇātipātā paṭivirato …pe… evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
What are the five fears and enmities they have quelled? Anyone who kills living creatures brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from killing living creatures does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from killing living creatures.
“Năm sự sợ hãi và oán thù nào đã được làm lắng dịu? Này các Tỳ khưu, người sát sinh, do duyên sát sinh, tạo ra sự sợ hãi và oán thù ngay trong hiện tại, tạo ra sự sợ hãi và oán thù trong đời sau, và cảm nhận nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Người từ bỏ sát sinh... như vậy sự sợ hãi và oán thù ấy được làm lắng dịu.
Yaṁ, bhikkhave, adinnādāyī …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhāyī surāmerayamajjapamādaṭṭhānapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato neva diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, na samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, na cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti. Imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti.
Anyone who steals … commits sexual misconduct … lies … Anyone who consumes beer, wine, and liquor intoxicants brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants. These are the five fears and enmities they have quelled.
“Này các Tỳ khưu, người lấy của không cho... người uống rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, do duyên uống rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, tạo ra sự sợ hãi và oán thù ngay trong hiện tại, tạo ra sự sợ hãi và oán thù trong đời sau, và cảm nhận nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Người từ bỏ uống rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, không tạo ra sự sợ hãi và oán thù ngay trong hiện tại, không tạo ra sự sợ hãi và oán thù trong đời sau, và không cảm nhận nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Đối với người từ bỏ uống rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, như vậy sự sợ hãi và oán thù ấy được làm lắng dịu. Năm sự sợ hãi và oán thù này đã được làm lắng dịu.”
Katamehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti? Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Dhamme …pe… saṅghe … ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi. Imehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti.
What are the four factors of stream-entry that they possess? When a noble disciple has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. These are the four factors of stream-entry that they possess.
“Vị ấy thành tựu bốn chi phần Dự Lưu nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật: ‘Đức Thế Tôn ấy... là bậc Thầy của trời và người, là bậc Giác Ngộ, là đức Thế Tôn.’ Đối với Pháp... đối với Tăng... Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh yêu mến, không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị vằn vện, không bị đốm, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, có tác dụng đưa đến định. Vị ấy thành tựu bốn chi phần Dự Lưu này.”
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, imehi ca catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Aṭṭhamaṁ.
When a noble disciple has quelled these five fears and enmities, and possesses these four factors of stream-entry, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’”
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử đã làm lắng dịu năm sự sợ hãi và oán thù này, và đã thành tựu bốn chi phần Dự Lưu này, vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đã đoạn tận cảnh giới súc sinh, đã đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta là bậc Dự Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ đạt đến giác ngộ.’” Hết bài kinh thứ tám.