- Aṅguttara Nikāya 9.27
- 3. Sattāvāsavagga
Bản dịch
AN 9.27 — Sợ Hãi Hận Thù (1)
Paṭhamaverasutta
TTC 1Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
TTC 2—Này Gia chủ, khi nào năm sợ hãi hận thù của vị Thánh đệ tử được chỉ tức, thời vị ấy thành tựu được bốn Dự lưu phần. Nếu vị ấy muốn, có thể tuyên bố về ngã đối với tự ngã: “Ðịa ngục đối với ta được đoạn tận, loài bàng sanh đối với ta được đoạn tận, cõi ngạ quỷ đối với ta được đoạn tận, cõi dữ, ác thú, đọa xứ đối với ta được đoạn tận. Ta là vị Dự lưu, không còn thối đọa, chắc chắn đạt đến Chánh giác”.
TTC 3Thế nào là năm sợ hãi hận thù được chỉ tức?
Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sát sanh, vì duyên sát sanh, đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Từ bỏ sát sanh, sợ hãi hận thù không đưa đến trong hiện tại, sợ hãi hận thù không đưa đến trong tương lai, kể cả không có tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ sát sanh, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.
Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do lấy của không cho, vì duyên lấy của không cho đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ lấy của không cho, như vậy sự sợ hãi hận thù được nhiếp phục.
Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sống tà hạnh trong các dục, vì duyên sống tà hạnh trong các dục đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.
Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do nói láo, vì duyên nói láo đưa đến trong hiện tại; sự sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ nói láo, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.
Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do đắm say rượu men, rượu nấu, vì duyên đắm say rượu men, rượu nấu đưa đến trong hiện tại; sự sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ… Ðối với vị từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.
Năm sự sợ hãi hận thù này được nhiếp phục.
TTC 4Thế nào là bốn Dự lưu phần được đầy đủ?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử, đầy đủ lòng tin tuyệt đối với đức Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”.
Vị ấy đầy đủ lòng tin tuyệt đối với Pháp: “Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu”.
Vị ấy đầy đủ lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn, đáng được cung kính, đang được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.
Vị ấy đầy đủ các giới đức được bậc Thánh quý mến, không bị bể vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết, không có vết nhơ, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị nhiễm trước, đưa đến Thiền định. Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.27
- 3. Abodes of Sentient Beings
Fears and Enmities (1st)
7. Kinh Oan Gia Thứ Nhất
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
27. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói điều này với gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi một bên:
“Yato kho, gahapati, ariyasāvakassa pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, catūhi ca sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
“Householder, when a noble disciple has quelled five fears and enmities, and possesses the four factors of stream-entry, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’
“Này gia chủ, khi nào năm sự sợ hãi và oan gia của vị thánh đệ tử được lắng dịu, và vị ấy được thành tựu bốn chi phần của bậc Dự Lưu, nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận bàng sanh, đoạn tận ngạ quỷ, đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ đạt đến chánh giác’.”
Katamāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti? Yaṁ, gahapati, pāṇātipātī pāṇātipātapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, pāṇātipātā paṭivirato neva diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, na samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, na cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Pāṇātipātā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
What are the five fears and enmities they have quelled? Anyone who kills living creatures brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from killing living creatures does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from killing living creatures.
“Thế nào là năm sự sợ hãi và oan gia được lắng dịu? Này gia chủ, người sát sanh, do duyên sát sanh, tạo ra sự sợ hãi và oan gia ngay trong hiện tại, tạo ra sự sợ hãi và oan gia trong đời sau, và cảm thọ nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Người từ bỏ sát sanh thì không tạo ra sự sợ hãi và oan gia ngay trong hiện tại, không tạo ra sự sợ hãi và oan gia trong đời sau, và không cảm thọ nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Đối với người từ bỏ sát sanh, sự sợ hãi và oan gia ấy được lắng dịu như vậy.”
Yaṁ, gahapati, adinnādāyī …pe…
kāmesumicchācārī …
musāvādī …
surāmerayamajjapamādaṭṭhāyī surāmerayamajjapamādaṭṭhānapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato neva diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, na samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, na cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti.
Anyone who steals …
Anyone who commits sexual misconduct …
Anyone who lies …
Anyone who consumes beer, wine, and liquor intoxicants brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants.
These are the five fears and enmities they have quelled.
“Này gia chủ, người lấy của không cho... người tà dâm trong các dục... người nói dối... người dùng các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, do duyên dùng các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, tạo ra sự sợ hãi và oan gia ngay trong hiện tại, tạo ra sự sợ hãi và oan gia trong đời sau, và cảm thọ nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Người từ bỏ dùng các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, thì không tạo ra sự sợ hãi và oan gia ngay trong hiện tại, không tạo ra sự sợ hãi và oan gia trong đời sau, và không cảm thọ nỗi khổ ưu thuộc về tâm. Đối với người từ bỏ dùng các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi, sự sợ hãi và oan gia ấy được lắng dịu như vậy. Năm sự sợ hãi và oan gia này được lắng dịu.”
“Katamehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti? Idha, gahapati, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
What are the four factors of stream-entry that they possess? It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
“Thế nào là được thành tựu bốn chi phần của bậc Dự Lưu? Này gia chủ, ở đây, vị thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn’.”
Dhamme aveccappasādena samannāgato hoti: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
They have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
“Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Pháp: ‘Pháp đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu’.”
Saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho; yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
They have experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’
Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng đoàn: ‘Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là những vị đã khéo thực hành, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là những vị đã thực hành ngay thẳng, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là những vị đã thực hành đúng pháp, Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn là những vị đã thực hành hòa hợp; tức là bốn đôi tám vị. Tăng đoàn đệ tử của đức Thế Tôn ấy đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được dâng cúng, đáng được chắp tay cung kính, là phước điền vô thượng của thế gian.’
Ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi. Imehi catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti.
And a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. These are the four factors of stream-entry that they possess.
Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh yêu mến, không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị vằn vện, không bị đốm, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, có tác dụng đưa đến định. Vị ấy thành tựu bốn chi phần Dự Lưu này.
Yato kho, gahapati, ariyasāvakassa imāni pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, imehi ca catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto; sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Sattamaṁ.
When a noble disciple has quelled these five fears and enmities, and possesses these four factors of stream-entry, they may, if they wish, declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’”
“Này gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử đã làm lắng dịu năm sự sợ hãi và oán thù này, và đã thành tựu bốn chi phần Dự Lưu này, vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đã đoạn tận cảnh giới súc sinh, đã đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta là bậc Dự Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ đạt đến giác ngộ.’” Hết bài kinh thứ bảy.