- Aṅguttara Nikāya 9.26
- 3. Sattāvāsavagga
Silāyūpasutta
(…)
Bản dịch
Silāyūpasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Candikàputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:
—Này các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
TTC 2Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:
—Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
TTC 3Lần thứ hai… Lần thứ ba, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:
—Thưa các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho vị Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:
—Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
TTC 4—Và như thế nào, này Hiền giả, tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý?
—“Ly tham là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Ly sân là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Ly si là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không có tham là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không có sân là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không có si là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. “Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta”, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý.
TTC 5Như vậy, này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của con mắt, các sắc không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng; nếu các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ tai… nếu các hương do mũi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ mũi… nếu các vị do lưỡi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của lưỡi… nếu các xúc do thân nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của thân. nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý… Các pháp không chinh phục, tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng. Ví như, này Hiền giả, một trụ đá cao mười sáu khuỷu tay, tám khuỷu tay chôn sâu xuống đất, tám khuỷu tay nổi lên trên, nếu từ phương Ðông, mưa to gió lớn đến, không làm rung động, không làm chuyển động, không làm chuyển động mạnh trụ đá ấy; nếu từ phương Tây… nếu từ phương Bắc… nếu từ phương Nam, mưa to gió lớn đến, không làm rung động, không làm chuyển động, không làm chuyển động mạnh trụ đá ấy. Vì sao? Này Hiền giả, vì trụ đá được đào sâu, được chôn sâu. Cũng vậy, này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của con mắt, các sắc không chinh phục tâm của vị ấy, tâm được an trú không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng. Nếu các tiếng do tai nhận thức… nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý, các pháp không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
(…)
So I have heard.
6. Kinh Silāyūpa
Tatra kho āyasmā candikāputto bhikkhū āmantesi (…): “devadatto, āvuso, bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā citaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’”ti.
There Venerable Candikāputta addressed the mendicants, “Reverends, Devadatta teaches the mendicants like this: ‘When a mendicant’s mind is solidified by heart, it’s appropriate for them to say: “I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”’”
26. Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Candikāputta trú tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Khi ấy, Tôn giả Candikāputta gọi các Tỳ khưu và nói: ‘Này chư hiền, Devadatta thuyết pháp cho các Tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’.’
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ candikāputtaṁ etadavoca: “na kho, āvuso candikāputta, devadatto bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā citaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti. Evañca kho, āvuso, candikāputta, devadatto bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’”ti.
When he said this, Venerable Sāriputta said to him, “Reverend Candikāputta, Devadatta does not teach the mendicants like that. He teaches like this: ‘When a mendicant’s mind is well consolidated by heart, it’s appropriate for them to say: “I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”’”
Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Candikāputta điều này: ‘Này hiền giả Candikāputta, Devadatta không thuyết pháp cho các Tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’. Và này hiền giả Candikāputta, Devadatta thuyết pháp cho các Tỳ khưu như thế này: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi thuần thục bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’.’
Dutiyampi kho āyasmā candikāputto bhikkhū āmantesi: “devadatto, āvuso, bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā citaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’”ti. Dutiyampi kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ candikāputtaṁ etadavoca: “na kho, āvuso candikāputta, devadatto bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā citaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti. Evañca kho, āvuso candikāputta, devadatto bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’”ti.
For a second time …
Lần thứ hai, Tôn giả Candikāputta gọi các Tỳ khưu và nói: ‘Này chư hiền, Devadatta thuyết pháp cho các Tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’.’ Lần thứ hai, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Candikāputta điều này: ‘Này hiền giả Candikāputta, Devadatta không thuyết pháp cho các Tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’. Và này hiền giả Candikāputta, Devadatta thuyết pháp cho các Tỳ khưu như thế này: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi thuần thục bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’.’
Tatiyampi kho āyasmā candikāputto bhikkhū āmantesi: “devadatto, āvuso, bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā citaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’”ti.
Tatiyampi kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ candikāputtaṁ etadavoca: “na kho, āvuso candikāputta, devadatto bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā citaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti. Evañca kho, āvuso candikāputta, devadatto bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti: ‘yato kho, āvuso, bhikkhuno cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti, tassetaṁ bhikkhuno kallaṁ veyyākaraṇāya—khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
And for a third time Venerable Candikāputta addressed the mendicants …
And for a third time, Sāriputta said to him, “Reverend Candikāputta, Devadatta does not teach the mendicants like that. He teaches like this: ‘When a mendicant’s mind is well consolidated by heart, it’s appropriate for them to say: “I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”’
Lần thứ ba, Tôn giả Candikāputto gọi các Tỳ khưu và nói: ‘Này chư hiền, Devadatta thuyết pháp cho các Tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’.’ Lần thứ ba, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Candikāputta điều này: ‘Này hiền giả Candikāputta, Devadatta không thuyết pháp cho các Tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’. Và này hiền giả Candikāputta, Devadatta thuyết pháp cho các Tỳ khưu như thế này: ‘Này chư hiền, khi nào tâm của vị Tỳ khưu được trau dồi thuần thục bằng tâm, khi ấy vị Tỳ khưu ấy thích hợp để tuyên bố rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa, tôi biết rõ như vậy’.’
Kathañca, āvuso, bhikkhuno cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti? ‘Vītarāgaṁ me cittan’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘vītadosaṁ me cittan’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘vītamohaṁ me cittan’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘asarāgadhammaṁ me cittan’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘asadosadhammaṁ me cittan’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘asamohadhammaṁ me cittan’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘anāvattidhammaṁ me cittaṁ kāmabhavāyā’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘anāvattidhammaṁ me cittaṁ rūpabhavāyā’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti; ‘anāvattidhammaṁ me cittaṁ arūpabhavāyā’ti cetasā cittaṁ suparicitaṁ hoti.
Evaṁ sammā vimuttacittassa kho, āvuso, bhikkhuno bhusā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti; amissīkatamevassa cittaṁ hoti ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayaṁ cassānupassati.
And how is a mendicant’s mind well consolidated by heart? The mind is well consolidated by heart when they know: ‘My mind is without greed.’ … ‘My mind is without hate.’ … ‘My mind is without delusion.’ … ‘My mind is not liable to become greedy.’ … ‘My mind is not liable to become hateful.’ … ‘My mind is not liable to become deluded.’ … ‘My mind is not liable to return to rebirth in the sensual realm.’ … ‘My mind is not liable to return to rebirth in the realm of luminous form.’ … ‘My mind is not liable to return to rebirth in the formless realm.’
When a mendicant’s mind is rightly freed like this, even if compelling sights come into the range of vision they don’t occupy their mind. Their mind is quite untainted. It is steady, imperturbable, observing disappearance.
“Này hiền giả, thế nào là vị tỳ khưu có tâm được thuần thục bởi tâm? ‘Tâm của ta đã ly tham’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta đã ly sân’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta đã ly si’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta không có pháp tham ái’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta không có pháp sân hận’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta không có pháp si mê’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta không có pháp quay trở lại cõi dục’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta không có pháp quay trở lại cõi sắc’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm; ‘tâm của ta không có pháp quay trở lại cõi vô sắc’, do vậy tâm được thuần thục bởi tâm. Này hiền giả, đối với vị tỳ khưu có tâm được giải thoát chơn chánh như vậy, dầu cho các sắc pháp cực mạnh do nhãn thức nhận biết có đi vào tầm nhìn của mắt, chúng cũng không thể chi phối được tâm của vị ấy; tâm của vị ấy vẫn không bị pha trộn, được an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của chúng.”
Seyyathāpi, āvuso, silāyūpo soḷasakukkuko. Tassassu aṭṭha kukkū heṭṭhā nemaṅgamā, aṭṭha kukkū upari nemassa. Atha puratthimāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi, neva naṁ saṅkampeyya na sampavedheyya; atha pacchimāya … atha uttarāya … atha dakkhiṇāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi, neva naṁ saṅkampeyya na sampavedheyya. Taṁ kissa hetu? Gambhīrattā, āvuso, nemassa, sunikhātattā silāyūpassa. Evamevaṁ kho, āvuso, sammā vimuttacittassa bhikkhuno bhusā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti; amissīkatamevassa cittaṁ hoti ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayaṁ cassānupassati.
Suppose there was a stone post, sixteen feet long. Eight feet were buried underground, and eight above ground. And violent storms were to blow up out of the east, the west, the north, and the south. They couldn’t make it tremor and tremble and quake. Why is that? It’s because that stone post is firmly embedded, with deep foundations. In the same way, when a mendicant’s mind is rightly freed like this, even if compelling sights come into the range of vision they don’t occupy their mind. Their mind is quite untainted. It is steady, imperturbable, observing disappearance.
“Này hiền giả, ví như có một cột đá dài mười sáu khuỷu tay. Tám khuỷu tay của nó ở dưới móng, và tám khuỷu tay ở trên móng. Rồi dầu cho từ phương đông có trận mưa gió dữ dội thổi đến, nó cũng không thể làm cho cột đá ấy rung chuyển hay lay động; rồi từ phương tây... rồi từ phương bắc... rồi từ phương nam, dầu cho có trận mưa gió dữ dội thổi đến, nó cũng không thể làm cho cột đá ấy rung chuyển hay lay động. Vì sao vậy? Này hiền giả, là vì móng sâu và cột đá được chôn kỹ. Cũng vậy, này hiền giả, đối với vị tỳ khưu có tâm được giải thoát chơn chánh, dầu cho các sắc pháp cực mạnh do nhãn thức nhận biết có đi vào tầm nhìn của mắt, chúng cũng không thể chi phối được tâm của vị ấy; tâm của vị ấy vẫn không bị pha trộn, được an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của chúng.”
Bhusā cepi sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā … manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti; amissīkatamevassa cittaṁ hoti ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayaṁ cassānupassatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
If even compelling sounds … smells … tastes … touches … and ideas come into the range of the mind they don’t occupy the mind. Their mind is quite untainted. It is steady, imperturbable, observing disappearance.”
“Dầu cho các âm thanh cực mạnh do nhĩ thức nhận biết... các mùi hương do tỷ thức nhận biết... các vị nếm do thiệt thức nhận biết... các vật xúc chạm do thân thức nhận biết... các pháp do ý thức nhận biết có đi vào tầm nhận biết của ý, chúng cũng không thể chi phối được tâm của vị ấy; tâm của vị ấy vẫn không bị pha trộn, được an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của chúng.” Kinh thứ sáu.