- Aṅguttara Nikāya 9.13
- 2. Sīhanādavagga
Bản dịch
AN 9.13 — Tôn Giả Mahàkotthita
Koṭṭhikasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Mahàkotthita đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong hiện tại”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ?”
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là không thuần thục”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là không thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là thuần thục”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
TTC 2—Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong tương lai?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả?” Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ hiện tại?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là không thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ không thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?
TTC 3—Thưa Hiền giả, với những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
—Nhưng thưa Hiền giả, do không biết gì, không thấy gì, không đạt gì, không chứng ngộ gì, không hiện quán gì, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn?
—“Ðây là Khổ”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy… mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Thưa Hiền giả, đây là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.13
- 2. The Lion’s Roar
With Koṭṭhita
3. Kinh Koṭṭhika
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
Then Venerable Mahākoṭṭhita went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
“Reverend Sāriputta, is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced in this life be experienced by me in lives to come’?”
“Certainly not, reverend.”
13. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahākoṭṭhika đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Sāriputta chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, Tôn giả ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhika nói với Tôn giả Sāriputta rằng: 'Này hiền giả Sāriputta, có phải người ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào phải cảm thọ trong hiện tại, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ trở thành nghiệp phải cảm thọ trong tương lai’ chăng?' 'Thưa hiền giả, không phải vậy.'
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Then is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced in lives to come be experienced by me in this life’?”
“Certainly not.”
Khi được hỏi: 'Vậy thì, này hiền giả Sāriputta, có phải người ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào phải cảm thọ trong tương lai, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ trở thành nghiệp phải cảm thọ trong hiện tại’ chăng?', ngài đã trả lời: 'Thưa hiền giả, không phải vậy.'
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced as pleasant be experienced by me as painful’?”
“Certainly not.”
Khi được hỏi: 'Này hiền giả Sāriputta, có phải người ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào cảm thọ lạc, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ trở thành nghiệp cảm thọ khổ’ chăng?', ngài đã trả lời: 'Thưa hiền giả, không phải vậy.'
“Kiṁ panāvuso, sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ sukhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Then is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced as painful be experienced by me as pleasant’?”
“Certainly not.”
Khi được hỏi: 'Vậy thì, này hiền giả Sāriputta, có phải người ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào cảm thọ khổ, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ trở thành nghiệp cảm thọ lạc’ chăng?', ngài đã trả lời: 'Thưa hiền giả, không phải vậy.'
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ paripakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced when ripe be experienced by me when unripe’?”
“Certainly not.”
“Then is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced when unripe be experienced by me when ripe’?”
“Certainly not.”
Khi được hỏi: 'Này hiền giả Sāriputta, có phải người ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào có quả trổ sanh đã chín muồi, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ trở thành nghiệp có quả trổ sanh chưa chín muồi’ chăng?', ngài đã trả lời: 'Thưa hiền giả, không phải vậy.'
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced a lot be experienced by me a little’?”
“Certainly not.”
‘Này hiền giả Sāriputta, có phải ngài sống phạm hạnh dưới đức Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào của tôi phải được cảm thọ nhiều, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ được cảm thọ ít’? Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ bahuvedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Then is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced a little be experienced by me a lot’?”
“Certainly not.”
‘Này hiền giả Sāriputta, có phải ngài sống phạm hạnh dưới đức Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào của tôi phải được cảm thọ ít, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ được cảm thọ nhiều’? Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ avedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ avedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ vedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ sukhavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced by me be not experienced’?”
“Certainly not.”
“Then is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds not to be experienced be experienced’?”
“Certainly not.”
“Reverend Sāriputta, when you were asked whether the spiritual life was lived under the Buddha so that deeds to be experienced in this life are experienced in lives to come, you said, ‘Certainly not’.
When you were asked whether the spiritual life was lived under the Buddha so that deeds to be experienced in lives to come are experienced in this life …
deeds to be experienced as pleasant are experienced as painful …
deeds to be experienced as painful are experienced as pleasant …
‘Này hiền giả Sāriputta, có phải ngài sống phạm hạnh dưới đức Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào của tôi phải được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ không được cảm thọ’? Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ paripakkavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ bahuvedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ taṁ me kammaṁ avedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
deeds to be experienced when ripe are experienced when unripe …
deeds to be experienced when unripe are experienced when ripe …
deeds to be experienced a lot are experienced a little …
deeds to be experienced a little are experienced a lot …
deeds to be experienced are not experienced …
‘Này hiền giả Sāriputta, có phải ngài sống phạm hạnh dưới đức Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào của tôi phải được cảm thọ khi chưa chín muồi, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ được cảm thọ khi đã chín muồi’? Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ avedanīyaṁ taṁ me kammaṁ vedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi. Atha kimatthaṁ carahāvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
When you were asked whether the spiritual life was lived under the Buddha so that deeds not to be experienced are experienced, you said, ‘Certainly not.’ Then what exactly is the goal of leading the spiritual life under the Buddha?”
‘Này hiền giả Sāriputta, có phải ngài sống phạm hạnh dưới đức Thế Tôn là vì mục đích này: ‘Nghiệp nào của tôi không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy của tôi sẽ được cảm thọ’? Khi được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’ Vậy thì, thưa hiền giả, ngài sống phạm hạnh dưới đức Thế Tôn là vì mục đích gì?’
“Yaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti.
Kiṁ panassāvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, yassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti?
‘Idaṁ dukkhan’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ. Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati. ‘Ayaṁ dukkhasamudayo’ti khvassa, āvuso …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti khvassa, āvuso …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ. Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati. Idaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ. Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
Tatiyaṁ.
“Reverend, the spiritual life is lived under the Buddha to know, see, attain, realize, and comprehend that which is unknown, unseen, unattained, unrealized, and uncomprehended.”
“But what is the unknown, unseen, unattained, unrealized, and uncomprehended?”
“‘This is suffering.’ … ‘This is the origin of suffering.’ … ‘This is the cessation of suffering.’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ … This is the unknown, unseen, unattained, unrealized, and uncomprehended. The spiritual life is lived under the Buddha to know, see, attain, realize, and comprehend this.”
‘Thưa hiền giả, phạm hạnh được sống dưới đức Thế Tôn là để biết, để thấy, để đạt đến, để chứng ngộ, để thâm nhập vào điều chưa được biết, chưa được thấy, chưa được đạt đến, chưa được chứng ngộ, chưa được thâm nhập.’ (‘Thưa hiền giả, điều gì là chưa được biết, chưa được thấy, chưa được đạt đến, chưa được chứng ngộ, chưa được thâm nhập, mà vì để biết, để thấy, để đạt đến, để chứng ngộ, để thâm nhập vào điều ấy mà phạm hạnh được sống dưới đức Thế Tôn?’) ‘Thưa hiền giả, ‘Đây là khổ’ là điều chưa được biết, chưa được thấy, chưa được đạt đến, chưa được chứng ngộ, chưa được thâm nhập. Phạm hạnh được sống dưới đức Thế Tôn là để biết, để thấy, để đạt đến, để chứng ngộ, để thâm nhập vào điều ấy. Thưa hiền giả, ‘Đây là nguồn gốc của khổ’... tóm tắt... ‘Đây là sự diệt khổ’... tóm tắt... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’ là điều chưa được biết, chưa được thấy, chưa được đạt đến, chưa được chứng ngộ, chưa được thâm nhập. Phạm hạnh được sống dưới đức Thế Tôn là để biết, để thấy, để đạt đến, để chứng ngộ, để thâm nhập vào điều ấy. Thưa hiền giả, đây là điều chưa được biết, chưa được thấy, chưa được đạt đến, chưa được chứng ngộ, chưa được thâm nhập. Phạm hạnh được sống dưới đức Thế Tôn là để biết, để thấy, để đạt đến, để chứng ngộ, để thâm nhập vào điều ấy.’ Hết kinh thứ ba.