- Aṅguttara Nikāya 9.14
- 2. Sīhanādavagga
Bản dịch
AN 9.14 — Tôn Giả Samiddhi
Samiddhisutta
TTC 1Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Samiddhi đang ngồi xuống một bên:
—Do sở duyên gì, này Samiddhi, một người khởi lên các tư duy tầm?
—Do danh sắc làm sở duyên, thưa Tôn giả.
—Nhưng này Samiddhi, cái gì khiến chúng đi đến sai khác?
—Các giới, thưa Tôn giả.
—Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm tập khởi?
—Lấy xúc làm tập khởi, thưa Tôn giả.
—Này Samiddhi, chúng qui tụ ở đâu?
—Chúng qui tụ ở các cảm thọ, thưa Tôn giả.
—Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm thượng thủ?
—Chúng lấy định làm thượng thủ, thưa Tôn giả.
—Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm tăng thượng?
—Chúng lấy niệm làm tăng thượng, thưa Tôn giả.
—Này Samiddhi, chúng lấy cái gì làm tối thượng?
—Chúng là tuệ làm tối thượng, thưa Tôn giả.
—Này Samiddhi, chúng lấy gì làm lõi cây?
—Chúng lấy giải thoát làm lõi cây, thưa Tôn giả.
—Này Samiddhi, chúng thể nhập vào gì?
—Chúng thể nhập vào bất tử, thưa Tôn giả.
TTC 2—Khi được hỏi: “Này Samiddhi, do sở duyên gì một người khởi lên các tư duy tầm?”, Hiền giả đáp: “Do danh sắc làm sở duyên, thưa Tôn giả”. Này Samiddhi, khi được hỏi: “Cái gì khiến chúng đi đến sai khác?”, Hiền giả đáp:” Trong các giới, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm tập khởi?”, Hiền giả đáp: “Lấy xúc làm tập khởi, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chỗ qui tụ của chúng là gì?”, Hiền giả đáp: “Chỗ qui tụ của chúng là thọ, thưa Tôn giả”. khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm thượng thủ?”, Hiền giả đáp: “Chúng lấy định làm thượng thủ, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm tăng thượng?”, Hiền giả đáp: “Chúng lấy niệm tăng thượng, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm tối thượng?” Hiền giả đáp: “Chúng lấy tuệ làm tối thượng, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng lấy gì làm lõi cây?”, Hiền giả đáp: “Chúng lấy giải thoát làm lõi cây, thưa Tôn giả”. Khi được hỏi: “Này Samiddhi, chúng thể nhập vào gì?”, Hiền giả đáp: “Chúng thể nhập vào bất tử, thưa Tôn giả”. Lành thay, này Samiddhi! Lành thay, này Samiddhi! Hiền giả đã trả lời các câu hỏi. Nhưng Hiền giả chớ có kiêu mạn về vấn đề này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.14
- 2. The Lion’s Roar
With Samiddhi
4. Kinh Samiddhi
Atha kho āyasmā samiddhi yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ samiddhiṁ āyasmā sāriputto etadavoca:
“Kimārammaṇā, samiddhi, purisassa saṅkappavitakkā uppajjantī”ti?
“Nāmarūpārammaṇā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kva nānattaṁ gacchantī”ti?
“Dhātūsu, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁsamudayā”ti?
“Phassasamudayā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁsamosaraṇā”ti?
“Vedanāsamosaraṇā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁpamukhā”ti?
“Samādhippamukhā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁadhipateyyā”ti?
“Satādhipateyyā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁuttarā”ti?
“Paññuttarā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁsārā”ti?
“Vimuttisārā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁogadhā”ti?
“Amatogadhā, bhante”ti.
Then Venerable Samiddhi went up to Venerable Sāriputta, bowed, and sat to one side. Venerable Sāriputta said to him:
“Samiddhi, based on what do thoughts arise in a person?”
“Based on name and form, sir.”
“Where do they become diversified?”
“In the elements.”
“What is their origin?”
“Contact is their origin.”
“What is their meeting place?”
“Feeling is their meeting place.”
“What is their chief?”
“Immersion is their chief.”
“What is their ruler?”
“Mindfulness is their ruler.”
“What is their overseer?”
“Wisdom is their overseer.”
“What is their core?”
“Freedom is their core.”
“What is their objective?”
“Their objective is freedom from death.”
14. Khi ấy, tôn giả Samiddhi đi đến chỗ tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đã đảnh lễ tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta nói với tôn giả Samiddhi đang ngồi một bên như sau: ‘Này hiền giả Samiddhi, những ý định và tư duy của một người khởi lên với đối tượng là gì?’ ‘Thưa tôn giả, với đối tượng là danh và sắc.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng trở nên khác nhau ở đâu?’ ‘Thưa tôn giả, ở các giới.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có nguồn gốc từ đâu?’ ‘Thưa tôn giả, có nguồn gốc từ xúc.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng hội tụ ở đâu?’ ‘Thưa tôn giả, hội tụ ở thọ.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì dẫn đầu?’ ‘Thưa tôn giả, có định dẫn đầu.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì làm chủ?’ ‘Thưa tôn giả, có niệm làm chủ.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì là tối thượng?’ ‘Thưa tôn giả, có tuệ là tối thượng.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì là cốt lõi?’ ‘Thưa tôn giả, có giải thoát là cốt lõi.’ ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng đi đến đâu?’ ‘Thưa tôn giả, đi đến Bất Tử.’
“‘Kimārammaṇā, samiddhi, purisassa saṅkappavitakkā uppajjantī’ti, iti puṭṭho samāno ‘nāmarūpārammaṇā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kva nānattaṁ gacchantī’ti, iti puṭṭho samāno ‘dhātūsu, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁsamudayā’ti, iti puṭṭho samāno ‘phassasamudayā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁsamosaraṇā’ti, iti puṭṭho samāno ‘vedanāsamosaraṇā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁpamukhā’ti, iti puṭṭho samāno ‘samādhippamukhā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁadhipateyyā’ti, iti puṭṭho samāno ‘satādhipateyyā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁuttarā’ti, iti puṭṭho samāno ‘paññuttarā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁsārā’ti, iti puṭṭho samāno ‘vimuttisārā, bhante’ti vadesi. ‘Te pana, samiddhi, kiṁogadhā’ti, iti puṭṭho samāno ‘amatogadhā, bhante’ti vadesi. Sādhu sādhu, samiddhi. Sādhu kho tvaṁ, samiddhi, puṭṭho puṭṭho vissajjesi, tena ca mā maññī”ti.
Catutthaṁ.
“Samiddhi, when you were asked what is the basis on which thoughts arise in a person, you answered ‘name and form’. When you were asked … what is their objective, you answered ‘freedom from death’. Good, good, Samiddhi! It’s good that you answered each question. But don’t get conceited because of that.”
‘Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, những ý định và tư duy của một người khởi lên với đối tượng là gì?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, với đối tượng là danh và sắc.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng trở nên khác nhau ở đâu?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, ở các giới.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có nguồn gốc từ đâu?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, có nguồn gốc từ xúc.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng hội tụ ở đâu?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, hội tụ ở thọ.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì dẫn đầu?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, có định dẫn đầu.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì làm chủ?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, có niệm làm chủ.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì là tối thượng?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, có tuệ là tối thượng.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng có gì là cốt lõi?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, có giải thoát là cốt lõi.’ Khi được hỏi: ‘Này hiền giả Samiddhi, chúng đi đến đâu?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa tôn giả, đi đến Bất Tử.’ Lành thay, lành thay, này hiền giả Samiddhi! Này hiền giả Samiddhi, mỗi khi được hỏi, ngài đã trả lời rất khéo, nhưng chớ vì thế mà tự mãn.’ Hết kinh thứ tư.