- Aṅguttara Nikāya 9.12
- 2. Sīhanādavagga
Bản dịch
AN 9.12 — Không Có Dư Y
Saupādisesasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika, rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Nay còn quá sớm để vào Sàvatthi khất thực. Vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Tôn giả Sàriputta đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm , sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
TTC 2Lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên: “Thưa chư Hiền, ai chết có dư y, tất cả không được giải thoát khỏi địa ngục, không được giải thoát khỏi bàng sinh, không được giải thoát ngạ quỷ, không được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ”.
TTC 3Rồi Tôn giả Sàriputta không hoan hỷ, không chỉ trích lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy, không hoan hỷ, không chỉ trích, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: “Ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Sàriputta khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi con suy nghĩ như sau: “Nay còn quá sớm để vào Sàvatthi khất thực. Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, con nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón, hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, con ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên: “Thưa chư Hiền, ai chết có dư y, tất cả người ấy không được giải thoát khỏi địa ngục, không được giải thoát khỏi bàng sinh, không được giải thoát ngạ quỷ, không được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ”. Rồi bạch Thế Tôn, con không hoan hỷ, không chỉ trích lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy. Không hoan hỷ, không chỉ trích, con từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ rằng: “Ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.
TTC 4—Này Sàriputta, một số các du sĩ ngoại đạo là những kẻ ngu si, không thông minh, một số sẽ biết: “Người có dư y là người có dư y”, hay sẽ biết: “Người không có dư y là người không có dư y”. Này Sàriputta, có chín hạng người này, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú , đọa xứ. Thế nào là chín?
TTC 5Ở đây, này Sàriputta, có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Trung gian Bát-niết-bàn (antarà parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ nhất , khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
TTC 6Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Tổn hại Bát-niết-bàn (uppahacca parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ hai, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Vô hành Bát Niết Bàn (asankhàra parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ ba, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Hữu hành Bát-niết-bàn (sasankhàra parinibbàyì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ tư, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Thượng Lưu đi đến Sắc cứu cánh thiên (uddhamsota akanitthagàmì). Này Sàriputta, đây là hạng người thứ năm, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
TTC 7Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, không viên mãn trong định, không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, làm nhẹ bớt tham, sân, si, là vị Nhất Lai, còn đến thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ sáu, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
TTC 8Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, không viên mãn trong định, không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị Nhất Chủng (ekabìji), còn sanh hiện hữu làm người một lần nữa rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ bảy, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
TTC 9Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, thành tựu vừa phải trong định, thành tựu vừa phải trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị Gia gia (kolankolo), sau khi dong ruỗi, sau khi luân chuyển hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ tám, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục… được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
TTC 10Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, thành tựu vừa phải trong định, thành tựu vừa phải trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị trở lui tối đa là bảy lần (Thất Lai, sattakkhattu-paramo), sau khi dong ruỗi, sau khi luân chuyển, tối đa là bảy lần giữa chư Thiên và loài Người, rồi đoạn tận khổ đau. Này Sàriputta, đây là hạng người thứ chín, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Này Sàriputta, một số người du sĩ ngoại đạo là ngu si, không thông minh, một số người sẽ biết: “Có dư y là có dư y” hay một số người sẽ biết: “Không có dư y là không dư y”.
Này Sàriputta, chín hạng người này, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Nhưng này Sàriputta, cho đến nay, pháp môn này chưa được nói cho các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Vì cớ sao? Mong rằng khi nghe pháp môn này, họ không đem lại phóng dật. Lại nữa, này Sàriputta, pháp môn này được Ta nói đến vì Ta được hỏi đến.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.12
- 2. The Lion’s Roar
With Residue
2. Kinh Saupādisesa
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ, yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti. Atha kho āyasmā sāriputto yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?” Then he went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side.
12. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ thế này: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Hay là ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.” Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, ngài cùng các du sĩ ngoại đạo ấy chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên.
Tena kho pana samayena tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
“yo hi koci, āvuso, saupādiseso kālaṁ karoti, sabbo so aparimutto nirayā aparimutto tiracchānayoniyā aparimutto pettivisayā aparimutto apāyaduggativinipātā”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
Now at that time while those wanderers of other religions were sitting together this discussion came up among them:
“Reverends, no one who dies with residue is exempt from hell, the animal realm, or the ghost realm. They’re not exempt from places of loss, bad places, the underworld.”
Sāriputta neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. He rose from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
Then Sāriputta wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Vào lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi lại, đang tụ họp, câu chuyện này đã khởi lên: ‘Này chư hiền, bất cứ người nào mệnh chung trong khi còn hữu dư y, tất cả người ấy không thoát khỏi địa ngục, không thoát khỏi loài bàng sanh, không thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, không thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.’ Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đã không hoan hỷ, cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Sau khi không hoan hỷ, không phản đối, ngài đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ biết được ý nghĩa của lời nói này nơi đức Thế Tôn.’ Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, đã trở về từ nơi khất thực, rồi đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn điều này:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ; yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan’ti. Atha kho ahaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Tena kho pana samayena tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘yo hi koci, āvuso, saupādiseso kālaṁ karoti, sabbo so aparimutto nirayā aparimutto tiracchānayoniyā aparimutto pettivisayā aparimutto apāyaduggativinipātā’ti. Atha kho ahaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ: ‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī’”ti.
“Ke ca, sāriputta, aññatitthiyā paribbājakā bālā abyattā, ke ca saupādisesaṁ vā ‘saupādiseso’ti jānissanti, anupādisesaṁ vā ‘anupādiseso’ti jānissanti.
Navayime, sāriputta, puggalā saupādisesā kālaṁ kurumānā parimuttā nirayā parimuttā tiracchānayoniyā parimuttā pettivisayā parimuttā apāyaduggativinipātā. Katame nava?
Idha, sāriputta, ekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ paripūrakārī, paññāya mattaso kārī. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
“Sāriputta, these foolish, incompetent wanderers following other religions: who are they to know whether someone has residue or not?
There are these nine individuals who, dying with residue, are exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld. What nine?
There’s an individual who has fulfilled ethics and immersion, but has limited wisdom. With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
“Bạch ngài, hôm nay, vào buổi sáng, con đã đắp y, mang bát và y, rồi vào Sāvatthī để khất thực. Bạch ngài, con đã có suy nghĩ này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī; hay là ta nên đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.’ Bạch ngài, bấy giờ, con đã đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, con đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy thăm hỏi. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, con đã ngồi xuống một bên. Vào lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi lại, đang tụ họp, câu chuyện này đã khởi lên: ‘Này chư hiền, bất cứ người nào mệnh chung trong khi còn hữu dư y, tất cả người ấy không thoát khỏi địa ngục, không thoát khỏi loài bàng sanh, không thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, không thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.’ Bạch ngài, bấy giờ, con đã không hoan hỷ, cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Sau khi không hoan hỷ, không phản đối, con đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ biết được ý nghĩa của lời nói này nơi đức Thế Tôn.’”
“Này Sāriputta, có chín hạng người này, mệnh chung trong khi còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa. Chín hạng người ấy là gì? Này Sāriputta, ở đây, có hạng người thực hành viên mãn về giới, thực hành viên mãn về định, và thực hành có mức độ về tuệ. Người ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, trở thành bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Này Sāriputta, đây là hạng người thứ nhất, mệnh chung trong khi còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.”
Puna caparaṁ, sāriputta, idhekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ paripūrakārī, paññāya mattaso kārī. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti …pe…
asaṅkhāraparinibbāyī hoti …pe…
sasaṅkhāraparinibbāyī hoti …pe…
uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī. Ayaṁ, sāriputta, pañcamo puggalo saupādiseso kālaṁ kurumāno parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Furthermore, there’s an individual who has fulfilled ethics and immersion, but has limited wisdom. With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing. This is the second individual …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort. This is the third individual …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort. This is the fourth individual …
With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. This is the fifth individual …
“Lại nữa, này Sāriputta, ở đây có hạng người thực hành viên mãn về giới, thực hành viên mãn về định, và thực hành có mức độ về tuệ. Người ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, trở thành bậc Tổn hại Bát-niết-bàn... trở thành bậc Vô hành Bát-niết-bàn... trở thành bậc Hữu hành Bát-niết-bàn... trở thành bậc Thượng lưu đi đến cõi Sắc Cứu Cánh. Này Sāriputta, đây là hạng người thứ năm, mệnh chung trong khi còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được giải thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.”
Puna caparaṁ, sāriputta, idhekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ mattaso kārī, paññāya mattaso kārī. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti. Ayaṁ, sāriputta, chaṭṭho puggalo saupādiseso kālaṁ kurumāno parimutto nirayā …pe… parimutto apāyaduggativinipātā.
Furthermore, there’s an individual who has fulfilled ethics, but has limited immersion and wisdom. With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering. This is the sixth individual …
“Lại nữa, này Sāriputta, ở đây có hạng người thực hành viên mãn về giới, thực hành có mức độ về định, và thực hành có mức độ về tuệ. Người ấy, do sự đoạn tận ba kiết sử và do sự làm cho tham, sân, si muội lược, trở thành bậc Nhất lai; chỉ một lần trở lại thế gian này và chấm dứt khổ đau. Này Sāriputta, đây là hạng người thứ sáu, mệnh chung trong khi còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục... được giải thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.”
Puna caparaṁ, sāriputta, idhekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ mattaso kārī, paññāya mattaso kārī. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā ekabījī hoti, ekaṁyeva mānusakaṁ bhavaṁ nibbattetvā dukkhassantaṁ karoti. Ayaṁ, sāriputta, sattamo puggalo saupādiseso kālaṁ kurumāno parimutto nirayā …pe… parimutto apāyaduggativinipātā.
Furthermore, there’s an individual who has fulfilled ethics, but has limited immersion and wisdom. With the ending of three fetters, they’re a one-seeder. They will be reborn just one time in a human existence, then make an end of suffering. This is the seventh individual …
“Lại nữa, này Sāriputta, ở đây có hạng người thực hành viên mãn về giới, thực hành có mức độ về định, và thực hành có mức độ về tuệ. Người ấy, do sự đoạn tận ba kiết sử, trở thành bậc Nhất chủng; sau khi tái sanh chỉ một lần nữa trong cõi người và chấm dứt khổ đau. Này Sāriputta, đây là hạng người thứ bảy, mệnh chung trong khi còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục... được giải thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.”
Puna caparaṁ, sāriputta, idhekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ mattaso kārī, paññāya mattaso kārī. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā kolaṅkolo hoti, dve vā tīṇi vā kulāni sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karoti. Ayaṁ, sāriputta, aṭṭhamo puggalo saupādiseso kālaṁ kurumāno parimutto nirayā …pe… parimutto apāyaduggativinipātā.
Furthermore, there’s an individual who has fulfilled ethics, but has limited immersion and wisdom. With the ending of three fetters, they go from family to family. They will transmigrate between two or three families and then make an end of suffering. This is the eighth individual …
“Lại nữa, này Sāriputta, ở đây có hạng người thực hành viên mãn về giới, thực hành có mức độ về định, và thực hành có mức độ về tuệ. Người ấy, do sự đoạn tận ba kiết sử, trở thành bậc Gia-gia; sau khi đi qua, luân hồi trong hai hoặc ba gia đình rồi chấm dứt khổ đau. Này Sāriputta, đây là hạng người thứ tám, mệnh chung trong khi còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục... được giải thoát khỏi đọa xứ, ác thú, nơi sa đọa.”
Puna caparaṁ, sāriputta, idhekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ mattaso kārī, paññāya mattaso kārī. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sattakkhattuparamo hoti, sattakkhattuparamaṁ deve ca manusse ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karoti. Ayaṁ, sāriputta, navamo puggalo saupādiseso kālaṁ kurumāno parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Furthermore, there’s an individual who has fulfilled ethics, but has limited immersion and wisdom. With the ending of three fetters, they have at most seven rebirths. They will transmigrate at most seven times among gods and humans and then make an end of suffering. This is the ninth individual …
Lại nữa, này Sāriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong giới, thực hành định ở mức độ vừa phải, thực hành tuệ ở mức độ vừa phải. Vị ấy, do đoạn trừ ba kiết sử, trở thành bậc Thất lai, sau khi còn phải sanh tử bảy lần nữa giữa cõi trời và cõi người, sẽ chấm dứt khổ đau. Này Sāriputta, đây là hạng người thứ chín, khi mệnh chung vẫn còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Ke ca, sāriputta, aññatitthiyā paribbājakā bālā abyattā, ke ca saupādisesaṁ vā ‘saupādiseso’ti jānissanti, anupādisesaṁ vā ‘anupādiseso’ti jānissanti. Ime kho, sāriputta, nava puggalā saupādisesā kālaṁ kurumānā parimuttā nirayā parimuttā tiracchānayoniyā parimuttā pettivisayā parimuttā apāyaduggativinipātā.
Na tāvāyaṁ, sāriputta, dhammapariyāyo paṭibhāsi bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Taṁ kissa hetu? Māyimaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā pamādaṁ āhariṁsūti. Api ca mayā, sāriputta, dhammapariyāyo pañhādhippāyena bhāsito”ti.
Dutiyaṁ.
These foolish, incompetent wanderers following other religions: who are they to know whether someone has residue or not? These are the nine individuals who, dying with residue, are exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Up until now, Sāriputta, I have not felt the need to give this exposition of the teaching to the monks, nuns, laymen, and laywomen. Why is that? For I didn’t want those who heard it to introduce negligence. However, I have spoken it in order to answer your question.”
Này Sāriputta, những du sĩ ngoại đạo kia là ai mà ngu si, không thông thái, mà có thể biết được người còn hữu dư y là ‘còn hữu dư y’, hay người vô dư y là ‘vô dư y’? Này Sāriputta, chính chín hạng người này, khi mệnh chung vẫn còn hữu dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Này Sāriputta, pháp môn này chưa từng được Ta giảng giải cho các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Vì sao vậy? Mong rằng sau khi nghe pháp môn này, họ sẽ không đi đến phóng dật. Tuy nhiên, này Sāriputta, pháp môn này đã được Ta thuyết giảng theo ý muốn của câu hỏi. (Kinh thứ hai.)