- Aṅguttara Nikāya 9.11
- 2. Sīhanādavagga
Bản dịch
AN 9.11 — Sau Khi An Cư
Sīhanādasutta
TTC 1Như vậy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika, rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con đã sống an cư trong mùa mưa tại Sàvatthi. Bạch Thế Tôn, nay con muốn ra đi du hành trong quốc độ.
—Này Sàriputta, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.
Rồi Tôn giả Sàriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 2Rồi một Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta ra đi không bao lâu, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con, đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con.
Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo:
—Này Tỷ-kheo, hãy đến nhân danh Ta, nói với Sàriputta: “Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy, vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.
—Thưa vâng, này Hiền giả.
Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Moggallàna và Tôn giả Ananda cầm chìa khóa, đi từ tinh xá này đến tinh xá khác nói rằng:
—Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Sàriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn.
TTC 3Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
—Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con”.
TTC 4—Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ bất tịnh, rửa sạch phẩn uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch máu, rửa sạch mủ; tuy vậy nước không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như nước, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ bất tịnh, đốt phẩn uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như lửa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Candàla hay con gái của một người Candàla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, một nữ nhân hay một nam nhân còn trẻ tuổi, thanh niên, ưa thích trang điểm, sau khi gội đầu, sẽ lo âu, xấu hổ, nhàm chán nếu xác rắn, hay xác chó, hay xác người được cuốn vào cổ người ấy. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con lo âu, xấu hổ, nhàm chán với cái thân đầy bất tịnh này. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
TTC 5Rồi Tỷ-kheo ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.
—Này Tỷ-kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Sàriputta, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỷ kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỷ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.
TTC 6Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta:
—Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.
—Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: “Hãy tha thứ cho”, và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 9.11
- 2. The Lion’s Roar
Sāriputta’s Lion’s Roar
1. Kinh Tiếng Rống Sư Tử
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “vuttho me, bhante, sāvatthiyaṁ vassāvāso. Icchāmahaṁ, bhante, janapadacārikaṁ pakkamitun”ti.
“Yassadāni tvaṁ, sāriputta, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho āyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho aññataro bhikkhu acirapakkante āyasmante sāriputte bhagavantaṁ etadavoca: “āyasmā maṁ, bhante, sāriputto āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkanto”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena sāriputtaṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso sāriputta, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso sāriputta, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā sāriputto tassa bhikkhuno paccassosi.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then Venerable Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I have completed the rainy season residence at Sāvatthī. I wish to leave to wander the countryside.”
“Please, Sāriputta, go at your convenience.” Then Sāriputta rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
And then, not long after Sāriputta had left, a certain monk said to the Buddha, “Sir, Venerable Sāriputta attacked me and left without saying sorry.”
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell Sāriputta that the Teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Sāriputta and said to him, “Reverend Sāriputta, the Teacher summons you.”
“Yes, reverend,” Sāriputta replied.
11. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, con đã an cư mùa mưa tại Sāvatthī. Bạch Thế Tôn, con muốn lên đường du hành đến các xứ.' – 'Này Sāriputta, nay ngươi hãy làm những gì ngươi nghĩ là đúng thời.' Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Khi Tôn giả Sāriputta vừa đi không bao lâu, một Tỳ khưu khác bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã va chạm vào con rồi ra đi du hành mà không xin lỗi.' Bấy giờ, Thế Tôn gọi một Tỳ khưu: 'Này Tỳ khưu, hãy đi, nhân danh ta gọi Sāriputta lại đây: ‘Thưa hiền giả Sāriputta, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.’' – 'Vâng, bạch Thế Tôn.' Vị Tỳ khưu ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sāriputta: 'Thưa hiền giả Sāriputta, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.' – 'Vâng, thưa hiền giả.' Tôn giả Sāriputta đáp lời vị Tỳ khưu ấy.
Tena kho pana samayena āyasmā ca mahāmoggallāno āyasmā ca ānando avāpuraṇaṁ ādāya vihāre āhiṇḍanti: “abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto. Idānāyasmā sāriputto bhagavato sammukhā sīhanādaṁ nadissatī”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
“idha te, sāriputta, aññataro sabrahmacārī khīyanadhammaṁ āpanno: ‘āyasmā maṁ, bhante, sāriputto āsajja appaṭinissajjacārikaṁ pakkanto’”ti.
Now at that time the venerables Mahāmoggallāna and Ānanda, taking a latchkey, went from dwelling to dwelling, saying: “Come forth, venerables! Come forth, venerables! Now Venerable Sāriputta will roar his lion’s roar in the presence of the Buddha!”
Then Venerable Sāriputta went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Sāriputta, one of your spiritual companions has made this complaint: ‘Venerable Sāriputta attacked me and left without saying sorry.’”
Vào lúc ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna và Tôn giả Ānanda cầm chìa khóa đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác và nói: 'Chư hiền giả, hãy đến! Chư hiền giả, hãy đến! Bây giờ Tôn giả Sāriputta sẽ rống lên tiếng rống sư tử trước mặt Thế Tôn.' Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên: 'Này Sāriputta, ở đây có một vị đồng phạm hạnh của ngươi đã đưa ra lời khiển trách: ‘Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã va chạm vào con rồi ra đi du hành mà không xin lỗi.’”
“Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
“Sir, someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
Bạch Thế Tôn, chắc chắn người nào không an trú niệm hướng về thân nơi thân, người ấy mới có thể va chạm vào một vị đồng phạm hạnh nào đó ở đây rồi ra đi du hành mà không xin lỗi.
Seyyathāpi, bhante, pathaviyaṁ sucimpi nikkhipanti asucimpi nikkhipanti gūthagatampi nikkhipanti muttagatampi nikkhipanti kheḷagatampi nikkhipanti pubbagatampi nikkhipanti lohitagatampi nikkhipanti, na ca tena pathavī aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, pathavīsamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose they were to toss both clean and unclean things on the earth, like feces, urine, spit, pus, and blood. The earth isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, I live with a heart like the earth, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
Bạch Thế Tôn, ví như trên đất người ta vứt bỏ cả vật sạch sẽ lẫn vật không sạch sẽ, vứt bỏ cả phân, nước tiểu, nước bọt, mủ, và máu, nhưng đất không vì thế mà lo âu, hổ thẹn, hay ghê tởm; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như đất, quảng đại, cao cả, vô lượng, không oán hận, không sân hận. Bạch Thế Tôn, chắc chắn người nào không an trú niệm hướng về thân nơi thân, người ấy mới có thể va chạm vào một vị đồng phạm hạnh nào đó ở đây rồi ra đi du hành mà không xin lỗi.
Seyyathāpi, bhante, āpasmiṁ sucimpi dhovanti asucimpi dhovanti gūthagatampi … muttagatampi … kheḷagatampi … pubbagatampi … lohitagatampi dhovanti, na ca tena āpo aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, āposamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose they were to wash both clean and unclean things in water, like feces, urine, spit, pus, and blood. The water isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, I live with a heart like water, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
Bạch Thế Tôn, ví như trong nước người ta rửa cả vật sạch sẽ lẫn vật không sạch sẽ, rửa cả phân... nước tiểu... nước bọt... mủ... và máu, nhưng nước không vì thế mà lo âu, hổ thẹn, hay ghê tởm; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như nước, quảng đại, cao cả, vô lượng, không oán hận, không sân hận. Bạch Thế Tôn, chắc chắn người nào không an trú niệm hướng về thân nơi thân, người ấy mới có thể va chạm vào một vị đồng phạm hạnh nào đó ở đây rồi ra đi du hành mà không xin lỗi.
Seyyathāpi, bhante, tejo sucimpi ḍahati asucimpi ḍahati gūthagatampi … muttagatampi … kheḷagatampi … pubbagatampi … lohitagatampi ḍahati, na ca tena tejo aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, tejosamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose a fire were to burn both clean and unclean things, like feces, urine, spit, pus, and blood. The fire isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, I live with a heart like fire, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
Bạch Thế Tôn, ví như lửa đốt cả vật sạch sẽ lẫn vật không sạch sẽ, đốt cả phân... nước tiểu... nước bọt... mủ... và máu, nhưng lửa không vì thế mà lo âu, hổ thẹn, hay ghê tởm; cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như lửa, quảng đại, cao cả, vô lượng, không oán hận, không sân hận. Bạch Thế Tôn, chắc chắn người nào không an trú niệm hướng về thân nơi thân, người ấy mới có thể va chạm vào một vị đồng phạm hạnh nào đó ở đây rồi ra đi du hành mà không xin lỗi.
Seyyathāpi, bhante, vāyo sucimpi upavāyati asucimpi upavāyati gūthagatampi … muttagatampi … kheḷagatampi … pubbagatampi … lohitagatampi upavāyati, na ca tena vāyo aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, vāyosamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose the wind was to blow on both clean and unclean things, like feces, urine, spit, pus, and blood. The wind isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, I live with a heart like the wind, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
“Bạch ngài, ví như gió thổi qua vật thanh tịnh, cũng thổi qua vật không thanh tịnh, thổi qua phân... nước tiểu... nước bọt... mủ... máu, và do vậy gió không bực dọc, không hổ thẹn, không ghê tởm. Cũng vậy, bạch ngài, con an trú với tâm giống như gió, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không sân hận, không phiền não. Bạch ngài, chắc chắn người nào không an trú niệm thân nơi thân, người ấy ở đây, sau khi va chạm một vị đồng phạm hạnh nào đó, không từ bỏ (lỗi lầm) rồi bỏ đi du hành.
Seyyathāpi, bhante, rajoharaṇaṁ sucimpi puñchati asucimpi puñchati gūthagatampi … muttagatampi … kheḷagatampi … pubbagatampi … lohitagatampi puñchati, na ca tena rajoharaṇaṁ aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, rajoharaṇasamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose a rag was to wipe up both clean and unclean things, like feces, urine, spit, pus, and blood. The rag isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, I live with a heart like a rag, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
“Bạch ngài, ví như giẻ lau bụi lau chùi vật thanh tịnh, cũng lau chùi vật không thanh tịnh, lau chùi phân... nước tiểu... nước bọt... mủ... máu, và do vậy giẻ lau bụi không bực dọc, không hổ thẹn, không ghê tởm. Cũng vậy, bạch ngài, con an trú với tâm giống như giẻ lau bụi, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không sân hận, không phiền não. Bạch ngài, chắc chắn người nào không an trú niệm thân nơi thân, người ấy ở đây, sau khi va chạm một vị đồng phạm hạnh nào đó, không từ bỏ (lỗi lầm) rồi bỏ đi du hành.
Seyyathāpi, bhante, caṇḍālakumārako vā caṇḍālakumārikā vā kaḷopihattho nantakavāsī gāmaṁ vā nigamaṁ vā pavisanto nīcacittaṁyeva upaṭṭhapetvā pavisati; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, caṇḍālakumārakacaṇḍālakumārikāsamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose a boy or girl of a corpse-worker tribe, holding a pot and clad in rags, were to enter a town or village. They’d enter with a humble mind. In the same way, I live with a heart like a boy or girl of a corpse-worker tribe, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
“Bạch ngài, ví như một cậu bé hay một cô bé thuộc giai cấp Caṇḍāla, tay cầm giỏ, mặc y phục rách rưới, khi đi vào làng hay thị trấn, họ đi vào với tâm khiêm hạ. Cũng vậy, bạch ngài, con an trú với tâm giống như cậu bé, cô bé thuộc giai cấp Caṇḍāla, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không sân hận, không phiền não. Bạch ngài, chắc chắn người nào không an trú niệm thân nơi thân, người ấy ở đây, sau khi va chạm một vị đồng phạm hạnh nào đó, không từ bỏ (lỗi lầm) rồi bỏ đi du hành.
Seyyathāpi, bhante, usabho chinnavisāṇo sūrato sudanto suvinīto rathiyāya rathiyaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ anvāhiṇḍanto na kiñci hiṁsati pādena vā visāṇena vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, usabhachinnavisāṇasamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose there was a bull with his horns cut, gentle, well tamed and well trained. He’d wander from street to street and square to square without hurting anyone with his feet or horns. In the same way, I live with a heart like a bull with horns cut, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
“Bạch ngài, ví như con bò đực bị gãy sừng, hiền lành, khéo điều phục, khéo huấn luyện, khi đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, nó không làm hại bất cứ ai bằng chân hay bằng sừng. Cũng vậy, bạch ngài, con an trú với tâm giống như con bò đực bị gãy sừng, quảng đại, cao thượng, vô lượng, không sân hận, không phiền não. Bạch ngài, chắc chắn người nào không an trú niệm thân nơi thân, người ấy ở đây, sau khi va chạm một vị đồng phạm hạnh nào đó, không từ bỏ (lỗi lầm) rồi bỏ đi du hành.
Seyyathāpi, bhante, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko sīsaṁnhāto ahikuṇapena vā kukkurakuṇapena vā manussakuṇapena vā kaṇṭhe āsattena aṭṭīyeyya harāyeyya jiguccheyya; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, iminā pūtikāyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and had bathed their head. If the carcass of a snake or a dog or a human were hung around their neck, they’d be horrified, repelled, and disgusted. In the same way, I’m horrified, repelled, and disgusted by this rotting body. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
“Bạch ngài, ví như một người nữ hay một người nam, trẻ trung, thanh niên, thích trang điểm, đã gội đầu tắm rửa, nếu bị buộc vào cổ một xác rắn, hay xác chó, hay xác người, thì sẽ bực dọc, hổ thẹn, ghê tởm. Cũng vậy, bạch ngài, con bực dọc, hổ thẹn, ghê tởm với cái thân hôi thối này. Bạch ngài, chắc chắn người nào không an trú niệm thân nơi thân, người ấy ở đây, sau khi va chạm một vị đồng phạm hạnh nào đó, không từ bỏ (lỗi lầm) rồi bỏ đi du hành.
Seyyathāpi, bhante, puriso medakathālikaṁ parihareyya chiddāvachiddaṁ uggharantaṁ paggharantaṁ; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, imaṁ kāyaṁ pariharāmi chiddāvachiddaṁ uggharantaṁ paggharantaṁ. Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyyā”ti.
Suppose someone was to carry around a bowl of fat that was leaking and oozing from holes and cracks. In the same way, I carry around this body that’s leaking and oozing from holes and cracks. Someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.”
“Bạch ngài, ví như một người mang một cái nồi mỡ có nhiều lỗ thủng lớn nhỏ, chảy rỉ ra trên, rỉ ra dưới. Cũng vậy, bạch ngài, con mang cái thân này, có nhiều lỗ thủng lớn nhỏ, chảy rỉ ra trên, rỉ ra dưới. Bạch ngài, chắc chắn người nào không an trú niệm thân nơi thân, người ấy ở đây, sau khi va chạm một vị đồng phạm hạnh nào đó, không từ bỏ (lỗi lầm) rồi bỏ đi du hành.”
Atha kho so bhikkhu uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca: “accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yo ahaṁ āyasmantaṁ sāriputtaṁ asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhiṁ. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhatu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha taṁ, bhikkhu, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yo tvaṁ sāriputtaṁ asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhi. Yato ca kho tvaṁ, bhikkhu, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuḍḍhihesā, bhikkhu, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Then that monk rose from his seat, placed his robe over one shoulder, bowed with his head to the Buddha’s feet, and said, “I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to speak ill of Venerable Sāriputta with an incorrect, hollow, false, untruthful claim. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
“Indeed, monk, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you to act in that way. But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.”
Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vắt qua một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, lỗi lầm đã xâm chiếm con, do con ngu si, mê muội, bất thiện, đã vu khống Tôn giả Sāriputta bằng điều không có thật, trống rỗng, sai trái, không chân thật. Bạch ngài, mong Thế Tôn hãy chấp nhận lỗi lầm của con là lỗi lầm, để con phòng hộ trong tương lai.” “Này tỳ khưu, quả thật lỗi lầm đã xâm chiếm ông, do ông ngu si, mê muội, bất thiện, đã vu khống Sāriputta bằng điều không có thật, trống rỗng, sai trái, không chân thật. Này tỳ khưu, vì ông thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sám hối đúng pháp, nên chúng tôi chấp nhận lỗi lầm ấy của ông. Này tỳ khưu, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh, người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sám hối đúng pháp và thực hành sự phòng hộ trong tương lai.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi: “khama, sāriputta, imassa moghapurisassa, purā tassa tattheva sattadhā muddhā phalatī”ti.
“Khamāmahaṁ, bhante, tassa āyasmato sace maṁ so āyasmā evamāha: ‘khamatu ca me so āyasmā’”ti.
Paṭhamaṁ.
Then the Buddha said to Venerable Sāriputta, “Sāriputta, forgive that futile man before his head explodes into seven pieces right here.”
“I will pardon that venerable if he asks me: ‘May the venerable please pardon me too.’”
Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta: “Này Sāriputta, hãy tha thứ cho kẻ ngu si này, trước khi đầu của y bị vỡ thành bảy mảnh ngay tại chỗ.” “Bạch ngài, con xin tha thứ cho vị tôn giả ấy, và mong vị tôn giả ấy cũng tha thứ cho con.” Hết phẩm thứ nhất.