- Aṅguttara Nikāya 8.57
- 6. Gotamīvagga
Bản dịch
AN 8.57 — Xứng Ðáng Ðược Cúng Dường (1)
Paṭhamaāhuneyyasutta
TTC 1—Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới … chấp nhận và học tập trong các học pháp; nghe nhiều, khéo thể nhập trong chánh tri kiến; làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện; có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến; chứng được bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức; nhớ được nhiều đời trước, như một đời, hai đời … nhớ được nhiều đời trước với các tướng trạng với các chi tiết; với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân … rõ biết các chúng sanh, tùy theo hạnh nghiệp của chúng; do đoạn diệt các lậu hoặc … chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.57
- 6. Gotamī
Worthy of Offerings Dedicated to the Gods (1st)
7. Bài kinh Āhuneyya thứ nhất
“Aṭṭhahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi aṭṭhahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu;
bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā;
kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko;
sammādiṭṭhiko hoti, sammādassanena samannāgato;
catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati;
dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti;
āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati.
Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, a mendicant with eight qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What eight?
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
They’re learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
They have good friends, companions, and associates.
They have right view, possessing right perspective.
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
They recollect many kinds of past lives, with features and details.
With clairvoyance that is purified and surpasses the human, they see how sentient beings pass on according to their deeds.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
A mendicant with these eight qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
57. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có đầy đủ tám pháp thì đáng được cúng dường, đáng được tiếp đón, đáng được dâng cúng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám pháp nào? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có giới hạnh... (v.v.)... chấp nhận và tu học trong các học giới; là người đa văn... (v.v.)... đã khéo thông đạt bằng trí tuệ; có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng về bạn lành; có chánh kiến, có đầy đủ chánh kiến; là người dễ dàng đạt được, không khó khăn, không mệt nhọc bốn thiền thuộc tâm cao thượng, đem lại sự an lạc trong hiện tại; vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời... (v.v.)... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các đặc điểm và chi tiết; với thiên nhãn thanh tịnh, vượt khỏi mắt người... (v.v.)... vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ; do sự đoạn tận các lậu hoặc... (v.v.)... vị ấy sống, sau khi đã tự mình chứng ngộ, thành tựu và đạt đến. Này các tỳ khưu, chính do có đầy đủ tám pháp này mà vị tỳ khưu đáng được cúng dường... (v.v.)... là ruộng phước vô thượng cho đời.” Hết bài kinh thứ bảy.