- Aṅguttara Nikāya 8.58
- 6. Gotamīvagga
Bản dịch
AN 8.58 — Xứng Ðáng Ðược Cúng Dường (2)
Dutiyaāhuneyyasutta
TTC 1—Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là tám?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo giữ giới … chấp nhận và học tập trong các học pháp; nghe nhiều, khéo thể nhập trong chánh tri kiến; sống tinh cần tinh tấn, nỗ lực kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng trong các thiện pháp; sống tại rừng núi, tại các trú xứ xa vắng, chịu đựng lạc và bất lạc, luôn luôn nhiếp phục bất lạc nổi lên; chịu đựng sợ hãi và khiếp đảm, luôn luôn nhiếp phục sợ hãi và khiếp đảm nổi lên; chứng được bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức; do đoạn diệt các lậu hoặc … chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.58
- 6. Gotamī
Worthy of Offerings Dedicated to the Gods (2nd)
8. Bài kinh Āhuneyya thứ hai
“Aṭṭhahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi aṭṭhahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu;
bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā;
āraddhavīriyo viharati thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu;
āraññiko hoti pantasenāsano;
aratiratisaho hoti, uppannaṁ aratiṁ abhibhuyya abhibhuyya viharati;
bhayabheravasaho hoti, uppannaṁ bhayabheravaṁ abhibhuyya abhibhuyya viharati;
catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati.
Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“A mendicant with eight qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What eight?
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
They’re learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
They live with energy roused up. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.
They live in the wilderness, in remote lodgings.
They prevail over desire and discontent, and live having mastered desire and discontent whenever they arose.
They prevail over fear and dread, and live having mastered fear and dread whenever they arose.
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
A mendicant with these eight qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
58. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có đầy đủ tám pháp thì đáng được cúng dường... (v.v.)... là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám pháp nào? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có giới hạnh... (v.v.)... chấp nhận và tu học trong các học giới; là người đa văn... (v.v.)... đã khéo thông đạt bằng trí tuệ; sống tinh tấn, có sức mạnh, có nỗ lực kiên cường, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp; là người sống ở rừng, ở nơi trú ngụ xa vắng; là người kham nhẫn sự không ưa thích và sự ưa thích, sống chế ngự và vượt qua sự không ưa thích đã khởi lên; là người kham nhẫn sự sợ hãi và kinh hoàng, sống chế ngự và vượt qua sự sợ hãi và kinh hoàng đã khởi lên; là người dễ dàng đạt được, không khó khăn, không mệt nhọc bốn thiền thuộc tâm cao thượng, đem lại sự an lạc trong hiện tại; do sự đoạn tận các lậu hoặc... (v.v.)... vị ấy sống, sau khi đã tự mình chứng ngộ, thành tựu và đạt đến. Này các tỳ khưu, chính do có đầy đủ tám pháp này mà vị tỳ khưu đáng được cúng dường... (v.v.)... là ruộng phước vô thượng cho đời.” Hết bài kinh thứ tám.