- Aṅguttara Nikāya 8.54
- 6. Gotamīvagga
Bản dịch
AN 8.54 — Dìghajanu, Người Koliya
Dīghajāṇusutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya, tại một thị trấn của dân chúng Koliya tên là Kakkarapatta. Rồi Koliya tử Dìghajànu (đầu gối dài) đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Koliya tử Dìghajànu bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con là những người gia chủ thọ hưởng những dục vọng, sống hệ phược với vợ con, dùng các hương chiên-đàn ở Kàsi đeo, và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, thọ lãnh vàng và bạc; bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho những người như chúng con, thuyết như thế nào để những pháp ấy đem đến cho chúng con hạnh phúc an lạc ngay trong hiện tại, và hạnh phúc an lạc trong tương lai.
TTC 2—Này Byagghapajja (chân cọp), có các pháp này đưa đến hạnh phúc hiện tại, an lạc hiện tại cho thiện nam tử. Thế nào là bốn?
TTC 3Ðầy đủ sự tháo vát, đầy đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa. Này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ sự tháo vát?
TTC 4Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử làm nghề gì để sống, hoặc nghề nông, hoặc đi buôn, hoặc nuôi bò, hoặc làm người bắn cung, hoặc làm việc cho vua, hoặc bất cứ nghề gì, trong các nghề ấy, người ấy thiện xảo, không biết mệt, biết suy tư hiểu phương tiện vừa đủ để tự làm và điều khiển người khác làm; này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ sự tháo vát. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ phòng hộ?
TTC 5Ở đây, này Byagghapajja, những tài sản của thiện nam tử do tháo vát tinh tấn thâu hoạch được, do sức mạnh bàn tay cất chứa được, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch được đúng pháp, vị ấy giữ gìn chúng, phòng hộ và bảo vệ: “Làm thế nào các tài sản này của ta không bị vua mang đi, không bị trộm cướp mang đi, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn trôi, không bị các người con thừa tự không khả ái cướp đoạt”. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ sự phòng hộ. Và này Byagghapajja, thế nào là làm bạn với thiện?
TTC 6Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập với đầy đủ lòng tin. Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ. Này Byagghapajja, đây gọi là làm bạn với thiện. Và này Byagghapajja, thế nào là sống thăng bằng, điều hòa?
TTC 7Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều hòa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Vị ấy suy nghĩ: “Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải đây là tiền xuất của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy”. Ví như, này Byagghapajja, người cầm cân hay đệ tử người cầm cân, sau khi cầm cân biết rằng: “Với chừng ấy, cân nặng xuống, hay với chừng ấy, cân bổng lên”. Cũng vậy, này Byagghapajja, thiện nam tử sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều hòa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Vị ấy suy nghĩ: “Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải đây là tiền xuất của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy”. Này Byagghapajja, nếu thiện nam tử này tiền nhập vào ít, nhưng sống nếp sống rộng rãi, hoang phí, thời người ta nói về người ấy như sau: “Người thiện nam tử này ăn tài sản của vị ấy như ăn trái cây sung”. Này Byagghapajja, nếu người thiện nam tử này có tiền nhập lớn, nhưng sống nếp sống cơ cực, thời người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Người thiện nam tử này sẽ chết như người chết đói”. Khi nào, này Byagghapajja, thiện nam tử này, sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sống nếp sống thăng bằng đìều hoà, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Vị ấy suy nghĩ: “Ðây là tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải đây là tiền xuất của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy”. Này Byagghapajja, đây gọi là nếp sống thăng bằng điều hòa.
TTC 8Như vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa xuất để tiêu phí tài sản thâu nhập: “Ðam mê đàn bà, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc; bạn bè kẻ ác, thân hữu kẻ ác, giao du kẻ ác”. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào, có bốn cửa nước chảy ra, có người đóng lại các cửa nước chảy vào, mở ra các cửa nước chảy ra, trời lại không mưa đúng lúc, như vậy, này Byagghapajja, chờ đợi là hồ nước ấy bị giảm thiểu, không có tăng trưởng. Cũng vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa xuất để tiêu phí tài sản được thâu nhập: “: “Ðam mê đàn bà, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc; bạn bè kẻ ác, thân hữu kẻ ác, giao du kẻ ác”.
TTC 9Như vậy, Này Byagghapajja, có bốn cửa vào để tài sản được hưng khởi: “: “Không say đắm đàn bà, không say đắm rượu chè, không say đắm cờ bạc; bạn bè với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện”. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào, có bốn cửa nước chảy ra, có người đóng lại các cửa nước chảy ra, mở ra các cửa nước chảy vào, và trời lại mưa đúng lúc, như vậy, này Byagghapajja, chờ đợi là hồ nước ấy tăng trưởng, không có giảm thiểu. Cũng vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa vào để tài sản được hưng khởi: “Không say đắm đàn bà, không say đắm rượu chè, không say đắm cờ bạc; bạn bè với thiện, thân hữu với thiện, giao du với thiện”.
Bốn pháp này, này Byagghapajja, đưa đến hạnh phúc hiện tại, an lạc hiện tại cho các thiện nam tử.
TTC 10Có bốn pháp này, này Byagghapajja, đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho thiện nam tử. Thế nào là bốn?
TTC 11Ðầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ lòng tin?
TTC 12Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử có lòng in, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn … bậc Thiên Nhân sư, Phật, Thế Tôn “. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ lòng in. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ giới đức?
TTC 13Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử từ bỏ sát sanh … từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ giới đức. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ bố thí?
TTC 14Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống ở gia đình, với tâm không bị cấu uế, xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay mở rộng, vui thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích chia xẻ vật bố thí. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ bố thí. Và này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ trí tuệ?
TTC 15Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với thánh thể nhập (quyết trạch), chơn chánh chấm dứt khổ đau. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ trí tuệ.
Tháo vát trong công việc
Không phóng dật, nhanh nhẹn
Sống đời sống thăng bằng
Giữ tài sản thâu được
Có tin, đầy đủ giới
Bố thí, không xan tham
Rửa sạch đường thượng đạo
An toàn trong tương lai
Ðây chính là tám pháp
Bậc tín chủ tìm cầu
Bậc chân thật tuyên bố
Ðưa đến lạc hai đời
Hạnh phúc cho hiện tại
Và an lạc tương lai
Ðây trú xứ gia chủ
Bố thí, tăng công đức.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.54
- 6. Gotamī
With Dīghajāṇu
4. Kinh Dīghajāṇu
Ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati kakkarapattaṁ nāma koliyānaṁ nigamo. Atha kho dīghajāṇu koliyaputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dīghajāṇu koliyaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“mayaṁ, bhante, gihī kāmabhogino puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasāma, kāsikacandanaṁ paccanubhoma, mālāgandhavilepanaṁ dhārayāma, jātarūparajataṁ sādayāma. Tesaṁ no, bhante, bhagavā amhākaṁ tathā dhammaṁ desetu ye amhākaṁ assu dhammā diṭṭhadhammahitāya diṭṭhadhammasukhāya, samparāyahitāya samparāyasukhāyā”ti.
At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Kakkarapatta. Then Dīghajāṇu the Koliyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, we are laypeople who enjoy sensual pleasures and living at home with our children. We use sandalwood imported from Kāsi, we wear garlands, fragrance, and makeup, and we accept gold and currency. May the Buddha please teach us the Dhamma in a way that leads to our welfare and happiness in this life and lives to come.”
54. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Koliya, tại một thị trấn của người Koliya tên là Kakkarapatta. Rồi Dīghajāṇu người Koliya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Dīghajāṇu người Koliya bạch với Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, chúng con là những người tại gia hưởng thụ các dục lạc, sống trong ngôi nhà chật chội với con cái, dùng gỗ chiên-đàn ở xứ Kāsī, mang vòng hoa, dùng hương liệu và dầu thoa, chấp nhận vàng và bạc. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pháp cho chúng con, những pháp nào sẽ đem lại lợi ích và an lạc cho chúng con ngay trong hiện tại, và sẽ đem lại lợi ích và an lạc trong tương lai.
“Cattārome, byagghapajja, dhammā kulaputtassa diṭṭhadhammahitāya saṁvattanti diṭṭhadhammasukhāya. Katame cattāro?
Uṭṭhānasampadā, ārakkhasampadā, kalyāṇamittatā, samajīvitā. Katamā ca, byagghapajja, uṭṭhānasampadā? Idha, byagghapajja, kulaputto yena kammaṭṭhānena jīvikaṁ kappeti—yadi kasiyā, yadi vaṇijjāya, yadi gorakkhena, yadi issattena, yadi rājaporisena, yadi sippaññatarena—tattha dakkho hoti analaso, tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, uṭṭhānasampadā.
“Byagghapajja, these four things lead to the welfare and happiness of a gentleman in this life. What four?
Accomplishment in initiative, protection, good friendship, and balanced finances. And what is accomplishment in initiative? It’s when a gentleman earns a living by means such as farming, trade, raising cattle, archery, government service, or one of the professions. He understands how to go about these things in order to complete and organize the work. This is called accomplishment in initiative.
– Này người thuộc dòng họ Byagghapajja, có bốn pháp này đưa đến lợi ích và an lạc cho người thiện gia nam tử ngay trong hiện tại. Thế nào là bốn? Sự thành tựu về siêng năng, sự thành tựu về phòng hộ, tình bạn tốt đẹp, và đời sống quân bình. Và này người thuộc dòng họ Byagghapajja, thế nào là sự thành tựu về siêng năng? Này người thuộc dòng họ Byagghapajja, ở đây, người thiện gia nam tử mưu sinh bằng nghề nghiệp nào – hoặc là nông nghiệp, hoặc là thương nghiệp, hoặc là chăn nuôi gia súc, hoặc là nghề bắn cung, hoặc là phục vụ hoàng gia, hoặc là một nghề thủ công nào khác – vị ấy khéo léo và không biếng nhác, có sự suy xét về phương tiện đối với nghề ấy, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp đặt. Này người thuộc dòng họ Byagghapajja, đây được gọi là sự thành tựu về siêng năng.
Katamā ca, byagghapajja, ārakkhasampadā? Idha, byagghapajja, kulaputtassa bhogā honti uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā, sedāvakkhittā, dhammikā dhammaladdhā. Te ārakkhena guttiyā sampādeti: ‘kinti me ime bhoge neva rājāno hareyyuṁ, na corā hareyyuṁ, na aggi ḍaheyya, na udakaṁ vaheyya, na appiyā dāyādā hareyyun’ti. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, ārakkhasampadā.
And what is accomplishment in protection? It’s when a gentleman owns legitimate wealth that he has earned by his own efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow. He ensures it is guarded and protected, thinking: ‘How can I prevent my wealth from being taken by rulers or bandits, consumed by fire, swept away by flood, or taken by unloved heirs?’ This is called accomplishment in protection.
Này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ sự phòng hộ? Này Byagghapajja, ở đời này, người thiện nam tử có được tài sản do nỗ lực siêng năng, do sức mạnh cánh tay tích lũy, do mồ hôi đổ ra làm nên, hợp pháp, có được một cách hợp pháp. Vị ấy bảo vệ, giữ gìn chúng với suy nghĩ: ‘Làm thế nào để tài sản này của ta không bị vua chúa chiếm đoạt, không bị trộm cướp lấy đi, không bị lửa thiêu, không bị nước cuốn trôi, không bị những người thừa kế không đáng yêu chiếm đoạt!’. Này Byagghapajja, đây được gọi là đầy đủ sự phòng hộ.
Katamā ca, byagghapajja, kalyāṇamittatā? Idha, byagghapajja, kulaputto yasmiṁ gāme vā nigame vā paṭivasati, tattha ye te honti—gahapatī vā gahapatiputtā vā daharā vā vuddhasīlino, vuddhā vā vuddhasīlino, saddhāsampannā, sīlasampannā, cāgasampannā, paññāsampannā—tehi saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati; yathārūpānaṁ saddhāsampannānaṁ saddhāsampadaṁ anusikkhati, yathārūpānaṁ sīlasampannānaṁ sīlasampadaṁ anusikkhati, yathārūpānaṁ cāgasampannānaṁ cāgasampadaṁ anusikkhati, yathārūpānaṁ paññāsampannānaṁ paññāsampadaṁ anusikkhati. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, kalyāṇamittatā.
And what is accomplishment in good friendship? It’s when a gentleman resides in a town or village. And in that place there are householders or their children who may be young or old, but are mature in conduct, accomplished in faith, ethics, generosity, and wisdom. He associates with them, converses and engages in discussion. And he emulates the same kind of accomplishment in faith, ethics, generosity, and wisdom. This is called accomplishment in good friendship.
Này Byagghapajja, thế nào là thân cận bạn lành? Này Byagghapajja, ở đời này, người thiện nam tử sống trong làng hay thị trấn nào, ở nơi đó có những vị gia chủ hay con của gia chủ, hoặc trẻ tuổi nhưng có giới đức trưởng thành, hoặc lớn tuổi và có giới đức trưởng thành, là những người đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ thí xả, đầy đủ trí tuệ, vị ấy cùng với họ ngồi lại, đàm luận, thảo luận; học theo sự đầy đủ tín của những người đầy đủ tín như vậy, học theo sự đầy đủ giới của những người đầy đủ giới như vậy, học theo sự đầy đủ thí xả của những người đầy đủ thí xả như vậy, học theo sự đầy đủ trí tuệ của những người đầy đủ trí tuệ như vậy. Này Byagghapajja, đây được gọi là thân cận bạn lành.
Katamā ca, byagghapajja, samajīvitā? Idha, byagghapajja, kulaputto āyañca bhogānaṁ viditvā, vayañca bhogānaṁ viditvā, samaṁ jīvikaṁ kappeti nāccogāḷhaṁ nātihīnaṁ: ‘evaṁ me āyo vayaṁ pariyādāya ṭhassati, na ca me vayo āyaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti. Seyyathāpi, byagghapajja, tulādhāro vā tulādhārantevāsī vā tulaṁ paggahetvā jānāti: ‘ettakena vā onataṁ, ettakena vā unnatan’ti; evamevaṁ kho, byagghapajja, kulaputto āyañca bhogānaṁ viditvā, vayañca bhogānaṁ viditvā, samaṁ jīvikaṁ kappeti nāccogāḷhaṁ nātihīnaṁ: ‘evaṁ me āyo vayaṁ pariyādāya ṭhassati, na ca me vayo āyaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti. Sacāyaṁ, byagghapajja, kulaputto appāyo samāno uḷāraṁ jīvikaṁ kappeti, tassa bhavanti vattāro: ‘udumbarakhādīvāyaṁ kulaputto bhoge khādatī’ti. Sace panāyaṁ, byagghapajja, kulaputto mahāyo samāno kasiraṁ jīvikaṁ kappeti, tassa bhavanti vattāro: ‘ajeṭṭhamaraṇaṁvāyaṁ kulaputto marissatī’ti. Yato ca khoyaṁ, byagghapajja, kulaputto āyañca bhogānaṁ viditvā, vayañca bhogānaṁ viditvā, samaṁ jīvikaṁ kappeti nāccogāḷhaṁ nātihīnaṁ: ‘evaṁ me āyo vayaṁ pariyādāya ṭhassati, na ca me vayo āyaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, samajīvitā.
And what is accomplishment in balanced finances? It’s when a gentleman, knowing his income and expenditure, balances his finances, being neither too extravagant nor too frugal. He thinks, ‘In this way my income will exceed my expenditure, not the reverse.’ It’s like an appraiser or their apprentice who, holding up the scales, knows that it’s low by this much or high by this much. In the same way, a gentleman, knowing his income and expenditure, balances his finances, being neither too extravagant nor too frugal. He thinks, ‘In this way my income will exceed my expenditure, not the reverse.’ If a gentleman has little income but an opulent life, there’ll be some who say: ‘This gentleman eats their wealth like a fig-eater!’ If a gentleman has a large income but a spartan life, there’ll be some who say: ‘This gentleman is starving themselves to death!’ But a gentleman, knowing his income and expenditure, leads a balanced life, neither too extravagant nor too frugal, thinking, ‘In this way my income will exceed my expenditure, not the reverse.’ This is called accomplishment in balanced finances.
Này Byagghapajja, thế nào là nuôi mạng quân bình? Này Byagghapajja, ở đời này, người thiện nam tử biết rõ nguồn thu và nguồn chi của tài sản, sống một đời sống quân bình, không quá phung phí, không quá eo hẹp, với suy nghĩ: ‘Như vậy, nguồn thu của ta sẽ vượt trên nguồn chi, chứ nguồn chi của ta sẽ không vượt trên nguồn thu’. Ví như, này Byagghapajja, người cầm cân hay đệ tử của người cầm cân, khi nhấc cán cân lên, biết rằng: ‘Bên này nặng hơn chừng này, bên kia cao hơn chừng này’; cũng vậy, này Byagghapajja, người thiện nam tử biết rõ nguồn thu và nguồn chi của tài sản, sống một đời sống quân bình, không quá phung phí, không quá eo hẹp, với suy nghĩ: ‘Như vậy, nguồn thu của ta sẽ vượt trên nguồn chi, chứ nguồn chi của ta sẽ không vượt trên nguồn thu’. Này Byagghapajja, nếu người thiện nam tử này có thu nhập ít mà lại sống xa hoa, người ta sẽ nói về vị ấy rằng: ‘Người thiện nam tử này tiêu thụ tài sản như người ăn quả sung’. Còn nếu, này Byagghapajja, người thiện nam tử này có thu nhập nhiều mà lại sống khổ sở, người ta sẽ nói về vị ấy rằng: ‘Người thiện nam tử này sẽ chết một cái chết như kẻ bần cùng’. Khi nào, này Byagghapajja, người thiện nam tử này, biết rõ nguồn thu và nguồn chi của tài sản, sống một đời sống quân bình, không quá phung phí, không quá eo hẹp, với suy nghĩ: ‘Như vậy, nguồn thu của ta sẽ vượt trên nguồn chi, chứ nguồn chi của ta sẽ không vượt trên nguồn thu’. Này Byagghapajja, đây được gọi là nuôi mạng quân bình.
Evaṁ samuppannānaṁ, byagghapajja, bhogānaṁ cattāri apāyamukhāni honti—itthidhutto, surādhutto, akkhadhutto, pāpamitto pāpasahāyo pāpasampavaṅko. Seyyathāpi, byagghapajja, mahato taḷākassa cattāri ceva āyamukhāni, cattāri ca apāyamukhāni. Tassa puriso yāni ceva āyamukhāni tāni pidaheyya, yāni ca apāyamukhāni tāni vivareyya; devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya. Evañhi tassa, byagghapajja, mahato taḷākassa parihāniyeva pāṭikaṅkhā, no vuddhi; evamevaṁ, byagghapajja, evaṁ samuppannānaṁ bhogānaṁ cattāri apāyamukhāni honti—itthidhutto, surādhutto, akkhadhutto, pāpamitto pāpasahāyo pāpasampavaṅko.
There are four drains on wealth that has been gathered in this way. Womanizing, drinking, gambling, and having bad friends, companions, and associates. Suppose there was a large reservoir with four inlets and four drains. And someone was to open up the drains and close off the inlets, and the heavens don’t provide enough rain. You’d expect that large reservoir to dwindle, not expand. In the same way, there are four drains on wealth that has been gathered in this way. Womanizing, drinking, gambling, and having bad friends, companions, and associates.
Này Byagghapajja, đối với tài sản được tạo ra như vậy, có bốn cửa ngõ của sự tiêu tán: đam mê nữ sắc, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, có bạn xấu, bạn ác, giao du với kẻ ác. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn có bốn cửa nước vào và bốn cửa nước ra. Một người đàn ông đóng tất cả các cửa nước vào và mở tất cả các cửa nước ra; và trời không mưa xuống đều đặn. Như vậy, này Byagghapajja, đối với hồ nước lớn ấy, chỉ có thể trông chờ sự cạn đi chứ không phải sự đầy lên; cũng vậy, này Byagghapajja, đối với tài sản được tạo ra như vậy, có bốn cửa ngõ của sự tiêu tán: đam mê nữ sắc, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, có bạn xấu, bạn ác, giao du với kẻ ác.
Evaṁ samuppannānaṁ, byagghapajja, bhogānaṁ cattāri āyamukhāni honti—na itthidhutto, na surādhutto, na akkhadhutto, kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Seyyathāpi, byagghapajja, mahato taḷākassa cattāri ceva āyamukhāni, cattāri ca apāyamukhāni. Tassa puriso yāni ceva āyamukhāni tāni vivareyya, yāni ca apāyamukhāni tāni pidaheyya; devo ca sammā dhāraṁ anuppaveccheyya. Evañhi tassa, byagghapajja, mahato taḷākassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni; evamevaṁ kho, byagghapajja, evaṁ samuppannānaṁ bhogānaṁ cattāri āyamukhāni honti—na itthidhutto, na surādhutto, na akkhadhutto, kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko.
Ime kho, byagghapajja, cattāro dhammā kulaputtassa diṭṭhadhammahitāya saṁvattanti diṭṭhadhammasukhāya.
There are four inlets for wealth that has been gathered in this way. Not womanizing, drinking, or gambling, and having good friends, companions, and associates. Suppose there was a large reservoir with four inlets and four drains. And someone was to open up the inlets and close off the drains, and the heavens provide plenty of rain. You’d expect that large reservoir to expand, not dwindle. In the same way, there are four inlets for wealth that has been gathered in this way. Not womanizing, drinking, or gambling, and having good friends, companions, and associates.
These are the four things that lead to the welfare and happiness of a gentleman in this life.
Này Byagghapajja, đối với tài sản được tạo ra như vậy, có bốn cửa ngõ của sự phát triển: không đam mê nữ sắc, không đam mê rượu chè, không đam mê cờ bạc, có bạn tốt, bạn lành, giao du với người hiền. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn có bốn cửa nước vào và bốn cửa nước ra. Một người đàn ông mở tất cả các cửa nước vào và đóng tất cả các cửa nước ra; và trời mưa xuống đều đặn. Như vậy, này Byagghapajja, đối với hồ nước lớn ấy, chỉ có thể trông chờ sự đầy lên chứ không phải sự cạn đi; cũng vậy, này Byagghapajja, đối với tài sản được tạo ra như vậy, có bốn cửa ngõ của sự phát triển: không đam mê nữ sắc, không đam mê rượu chè, không đam mê cờ bạc, có bạn tốt, bạn lành, giao du với người hiền. Này Byagghapajja, bốn pháp này đưa đến lợi ích, đưa đến hạnh phúc cho người thiện nam tử ngay trong đời hiện tại.
Cattārome, byagghapajja, dhammā kulaputtassa samparāyahitāya saṁvattanti samparāyasukhāya. Katame cattāro? Saddhāsampadā, sīlasampadā, cāgasampadā, paññāsampadā.
Katamā ca, byagghapajja, saddhāsampadā? Idha, byagghapajja, kulaputto saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, saddhāsampadā.
These four things lead to the welfare and happiness of a gentleman in lives to come. What four? Accomplishment in faith, ethics, generosity, and wisdom.
And what is accomplishment in faith? It’s when a gentleman has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ This is called accomplishment in faith.
Này Byagghapajja, có bốn pháp này đưa đến lợi ích, đưa đến hạnh phúc cho người thiện nam tử trong đời sau. Bốn pháp ấy là gì? Đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ thí xả, đầy đủ trí tuệ. Này Byagghapajja, thế nào là đầy đủ tín? Này Byagghapajja, ở đời này, người thiện nam tử có lòng tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Vì lý do này, Thế Tôn là… (v.v.)… là bậc Thầy của trời và người, là bậc Giác Ngộ, là Thế Tôn’. Này Byagghapajja, đây được gọi là đầy đủ tín.
Katamā ca, byagghapajja, sīlasampadā? Idha, byagghapajja, kulaputto pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, sīlasampadā.
And what is accomplishment in ethics? It’s when a gentleman doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. This is called accomplishment in ethics.
Này Byagghapajja, thế nào là giới thành tựu? Này Byagghapajja, ở đây, thiện nam tử từ bỏ sát sanh... cho đến... từ bỏ uống rượu men, rượu nấu, các chất say, là nhân sanh ra sự dể duôi. Này Byagghapajja, đây được gọi là giới thành tựu.
Katamā ca, byagghapajja, cāgasampadā? Idha, byagghapajja, kulaputto vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, cāgasampadā.
And what is accomplishment in generosity? It’s when a gentleman lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. This is called accomplishment in generosity.
Này Byagghapajja, thế nào là thí xả thành tựu? Này Byagghapajja, ở đây, thiện nam tử với tâm không còn vết nhơ của xan tham, sống tại gia, bố thí rộng rãi, tay luôn sạch sẽ, vui thích trong sự từ bỏ, sẵn sàng cho người xin, vui thích trong sự chia sớt bố thí. Này Byagghapajja, đây được gọi là thí xả thành tựu.
Katamā ca, byagghapajja, paññāsampadā? Idha, byagghapajja, kulaputto paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, paññāsampadā.
Ime kho, byagghapajja, cattāro dhammā kulaputtassa samparāyahitāya saṁvattanti samparāyasukhāyāti.
And what is accomplishment in wisdom? It’s when a gentleman is wise. He has the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is called accomplishment in wisdom.
These are the four things that lead to the welfare and happiness of a gentleman in lives to come.
Này Byagghapajja, thế nào là tuệ thành tựu? Này Byagghapajja, ở đây, thiện nam tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng xuyên thủng, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chơn chánh. Này Byagghapajja, đây được gọi là tuệ thành tựu. Này Byagghapajja, bốn pháp này dẫn đến lợi ích, hạnh phúc trong đời sau cho thiện nam tử.
Uṭṭhātā kammadheyyesu, appamatto vidhānavā; Samaṁ kappeti jīvikaṁ, sambhataṁ anurakkhati.
They’re enterprising in the workplace, diligent in managing things, they balance their finances, and preserve their wealth.
Người siêng năng trong công việc, không dể duôi, biết cách sắp đặt; sống một cách thăng bằng, bảo vệ tài sản đã thu hoạch.
Saddho sīlena sampanno, vadaññū vītamaccharo; Niccaṁ maggaṁ visodheti, sotthānaṁ samparāyikaṁ.
Faithful, accomplished in ethics, bountiful, rid of stinginess, they always purify the path to well-being in lives to come.
Người có tín, thành tựu giới, quảng đại, không xan tham; luôn luôn dọn sạch con đường an ổn cho đời sau.
Iccete aṭṭha dhammā ca, saddhassa gharamesino; Akkhātā saccanāmena, ubhayattha sukhāvahā.
And so these eight qualities of a faithful householder of discernment are declared by the one who is truly named to lead to happiness in both spheres,
Tám pháp này của người tín tâm, sống đời tại gia, đã được bậc Chơn Danh nói ra, mang lại hạnh phúc trong cả hai đời.
Diṭṭhadhammahitatthāya, samparāyasukhāya ca; Evametaṁ gahaṭṭhānaṁ, cāgo puññaṁ pavaḍḍhatī”ti.
Catutthaṁ.
welfare and benefit in this life, and happiness in lives to come. This is how, for a householder, merit grows by generosity.”
Vì lợi ích trong hiện tại, và hạnh phúc trong đời sau; như vậy, đối với hàng tại gia, bố thí và phước thiện tăng trưởng. Hết kinh thứ tư.