- Aṅguttara Nikāya 8.5
- 1. Mettāvagga
Bản dịch
AN 8.5 — Tùy Chuyển Thế Giới (1)
Paṭhamalokadhammasutta
TTC 1—Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
TTC 2Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.5
- 1. Love
Worldly Conditions (1st)
5. Kinh Pháp Thế Gian thứ nhất
“Aṭṭhime, bhikkhave, lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca aṭṭha lokadhamme anuparivattati. Katame aṭṭha? Lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca. Ime kho, bhikkhave, aṭṭha lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca ime aṭṭha lokadhamme anuparivattatīti.
“Mendicants, the eight worldly conditions revolve around the world, and the world revolves around the eight worldly conditions. What eight? Gain and loss, fame and disgrace, blame and praise, pleasure and pain. These eight worldly conditions revolve around the world, and the world revolves around these eight worldly conditions.
5. “Này các Tỳ khưu, có tám pháp thế gian này xoay vần theo thế gian, và thế gian xoay vần theo tám pháp thế gian. Tám pháp ấy là gì? Được và mất, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ. Này các Tỳ khưu, chính tám pháp thế gian này xoay vần theo thế gian, và thế gian xoay vần theo tám pháp thế gian này.”
Lābho alābho ca yasāyaso ca, Nindā pasaṁsā ca sukhaṁ dukhañca; Ete aniccā manujesu dhammā, Asassatā vipariṇāmadhammā.
Gain and loss, fame and disgrace, blame and praise, and pleasure and pain. These qualities among mankind are impermanent, transient, and perishable.
“Được và mất, danh và không danh, Chê và khen, cùng lạc và khổ; Các pháp này giữa loài người là vô thường, Không trường tồn, có bản chất biến đổi.”
Ete ca ñatvā satimā sumedho, Avekkhati vipariṇāmadhamme; Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ, Aniṭṭhato no paṭighātameti.
An intelligent and mindful person knows these things, seeing that they’re perishable. Desirable things don’t disturb their mind, nor are they repelled by the undesirable.
“Người có trí, có chánh niệm, biết rõ các pháp này, Quán xét chúng là pháp có bản chất biến đổi. Tâm không bị khuấy động bởi các pháp khả ý, Và không khởi sân hận đối với điều không vừa ý.”
Tassānurodhā atha vā virodhā, Vidhūpitā atthaṅgatā na santi; Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ, Sammappajānāti bhavassa pāragū”ti.
Pañcamaṁ.
Both favoring and opposing are cleared and disappeared, they are no more. Knowing the stainless, sorrowless state, they who have gone beyond rebirth <j>understand rightly.”
“Đối với vị ấy, thuận và nghịch, Đã được xua tan, đã biến mất, không còn tồn tại. Biết được trạng thái không trần cấu, không sầu muộn, Vị ấy, người đã đến bờ kia của sự hữu, hiểu biết một cách chân chánh.” Hết kinh thứ năm.