- Aṅguttara Nikāya 8.4
- 1. Mettāvagga
Bản dịch
AN 8.4 — Các Pháp Không Ðược Ái Mộ (2)
Dutiyaappiyasutta
TTC 1—Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, cung kính và bắt chước. Thế nào là tám?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa lợi dưỡng, ưa cung kính, ưa được tán thán, không biết thời, không biết vừa đủ, không trong sạch, nói nhiều, mắng nhiếc quở trách đối với các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, cung kính và bắt chước.
TTC 3Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, và bắt chước. Thế nào là tám?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa lợi dưỡng, không ưa cung kính, không ưa được tán thán, biết thời, biết vừa đủ, trong sạch, không nói nhiều, không mắng nhiếc quở trách đối với các đồng Phạm hạnh.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, cung kính và bắt chước.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.4
- 1. Love
Disliked (2nd)
4. Kinh Không Được Yêu Mến thứ hai
“Aṭṭhahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ appiyo ca hoti amanāpo ca agaru ca abhāvanīyo ca. Katamehi aṭṭhahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu lābhakāmo ca hoti, sakkārakāmo ca, anavaññattikāmo ca, akālaññū ca, amattaññū ca, asuci ca, bahubhāṇī ca, akkosakaparibhāsako ca sabrahmacārīnaṁ. Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ appiyo ca hoti amanāpo ca agaru ca abhāvanīyo ca.
“Mendicants, a mendicant with eight qualities is disliked and disapproved by their spiritual companions, not respected or admired. What eight? It’s when a mendicant desires material things, honor, and status. They know neither moderation nor the proper time. Their conduct is impure, they talk a lot, and they insult and abuse their spiritual companions. A mendicant with these eight qualities is disliked and disapproved by their spiritual companions, not respected or admired.
4. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hội đủ tám pháp sẽ không được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, không được ưa thích, không được kính trọng, và không được tôn trọng. Tám pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tham muốn lợi lộc, tham muốn được cung kính, tham muốn không bị khinh thường, không biết thời, không biết lượng, không trong sạch, nói nhiều, và mắng nhiếc, phỉ báng các bạn đồng phạm hạnh. Này các Tỳ khưu, chính do hội đủ tám pháp này mà vị Tỳ khưu không được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, không được ưa thích, không được kính trọng, và không được tôn trọng.”
Aṭṭhahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca. Katamehi aṭṭhahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu na lābhakāmo ca hoti, na sakkārakāmo ca, na anavaññattikāmo ca, kālaññū ca, mattaññū ca, suci ca, na bahubhāṇī ca, anakkosakaparibhāsako ca sabrahmacārīnaṁ. Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo cā”ti.
Catutthaṁ.
A mendicant with eight qualities is liked and approved by their spiritual companions, and respected and admired. What eight? It’s when a mendicant doesn’t desire material things, honor, and status. They know moderation and the proper time. Their conduct is pure, they don’t talk a lot, and they don’t insult and abuse their spiritual companions. A mendicant with these eight qualities is liked and approved by their spiritual companions, and respected and admired.”
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hội đủ tám pháp sẽ được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, được ưa thích, được kính trọng, và được tôn trọng. Tám pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu không tham muốn lợi lộc, không tham muốn được cung kính, không tham muốn không bị khinh thường, biết thời, biết lượng, trong sạch, không nói nhiều, và không mắng nhiếc, phỉ báng các bạn đồng phạm hạnh. Này các Tỳ khưu, chính do hội đủ tám pháp này mà vị Tỳ khưu được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, được ưa thích, được kính trọng, và được tôn trọng.” Hết kinh thứ tư.