- Aṅguttara Nikāya 8.46
- 5. Uposathavagga
Bản dịch
AN 8.46 — Tôn Gỉả Anuruddha
Anuruddhasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha, đang đi nghỉ ban ngày, ngồi Thiền tịnh. Rồi rất nhiều Thiên nữ với thân khả ái đi đến Tôn giả Anuruddha, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Anuruddha rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các Thiên nữ ấy thưa với Tôn giả:
—Chúng tôi là những thiên nữ với thân khả ái. Trên ba địa hạt, chúng tôi có quyền lực và có tự tại! Thưa Tôn giả, chúng tôi muốn có hình sắc như thế nào, chúng tôi liền được hình sắc ấy ngay lập tức. Chúng tôi muốn được tiếng như thế nào, chúng tôi liền được tiếng như thế ấy ngay lập tức. Chúng tôi muốn được lạc thọ như thế nào, chúng tôi liền được lạc ấy ngay lập tức. Thưa Tôn giả Anurudha, chúng tôi là những thiên nữ với thân khả ái. Trên ba địa hạt, chúng tôi có quyền lực và có tự tại.
TTC 2Rồi Tôn giả Anuruddha suy nghĩ: “Mong rằng các Thiên nữ này tất cả trở thành xanh, dung sắc xanh, y áo xanh, trang điểm xanh”. Rồi các Thiên nữ ấy, biết được tâm của Tôn giả Anuruddha, tất cả đều trở thành xanh, dung sắc xanh, y áo xanh, trang điểm xanh. Rồi Tôn giả Anuruddha suy nghĩ như sau: “Mong rằng các Thiên nữ này tất cả trở thành vàng … tất cả trở thành đỏ … tất cả trở thành trắng, dung sắc trắng, y áo trắng, trang sức trắng. Rồi các Thiên nữ ấy, biết được tâm của Tôn giả Anuruddha, tất cả đều trở thành trắng, dung sắc trắng, y áo trắng, trang sức trắng. Rồi các Thiên nữ ấy, một người hát, một người múa, một người vỗ tay. Ví như năm loại nhạc khí, khéo hòa điệu, khéo chơi, khéo đánh bởi người thiện xảo, thời tiếng phát ra được đáng ưa, khả lạc, khả dục, khả ái, mê ly. Cũng vậy, là nhạc của các Thiên nữ khéo trang điểm ấy, tiếng phát ra được đáng ưa, khả lạc, khả dục, khả ái, mê ly. Nhưng Tôn giả Anuruddha giữ các căn nhiếp phục. Các Thiên nữ ấy nghĩ rằng: “Tôn giả Anuruddha không có thưởng thức”, liền biến mất tại chỗ.
TTC 3Rồi Tôn giả Anuruddha, vào buổi chiều, từ Thiền định đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuruddha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, ở đây, con đang đi nghỉ ban ngày, ngồi Thiền tịnh. Rồi rất nhiều Thiên nữ với thân khả ái đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các Thiên nữ ấy thưa với con:
—Chúng tôi là những thiên nữ với thân khả ái. Trên ba địa hạt, chúng tôi có quyền lực và có tự tại! Thưa Tôn giả, chúng tôi muốn có hình sắc như thế nào, chúng tôi liền được hình sắc ấy ngay lập tức. Chúng tôi muốn có tiếng như thế nào, chúng tôi liền được tiếng như thế ấy ngay lập tức. Chúng tôi muốn được lạc thọ như thế nào, chúng tôi liền được lạc thọ ấy ngay lập tức. Thưa Tôn giả, Anurudha chúng tôi là những thiên nữ với thân hình khả ái. Trên ba địa hạt, chúng tôi có quyền lực và có tự tại.
TTC 4Bạch Thế Tôn. Con suy nghĩ như sau: “Mong rằng các Thiên nữ này tất cả trở thành xanh, dung sắc xanh, y áo xanh, trang điểm xanh”. Rồi các Thiên nữ ấy, biết được tâm của con, tất cả đều trở thành xanh, dung sắc xanh, y áo xanh, trang điểm xanh. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng các Thiên nữ này tất cả trở thành vàng … tất cả trở thành đỏ … tất cả trở thành trắng, dung sắc trắng, y áo trắng, trang sức trắng. Rồi bạch Thế Tôn, các Thiên nữ ấy, biết được tâm của con, tất cả đều trở thành trắng, dung sắc trắng, y áo trắng, trang sức trắng. Rồi bạch Thế Tôn, các Thiên nữ ấy, một người hát, một người múa, một người vỗ tay. Ví như năm loại nhạc khí, khéo hòa điệu, khéo chơi, khéo đánh bởi người thiện xảo, thời tiếng phát ra được đáng ưa, khả lạc, khả dục, khả ái, mê ly. Cũng vậy, là nhạc của các Thiên nữ khéo trang điểm ấy, tiếng phát ra được dịu ngọt, đáng ưa, khả lạc, khả dục, khả ái, mê ly. Nhưng bạch Thế Tôn, con giữ các căn nhiếp phục. Các Thiên nữ ấy nghĩ rằng: “Con không có thưởng thức”, liền biến mất tại chỗ.
Bạch Thế Tôn, thành tựu bao nhiêu pháp, nữ nhân sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các Thiên nữ ấy với thân khả ái?
TTC 5—Này, Anuruddha, đầy đủ tám pháp, nữ nhân sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các Thiên nữ ấy với thân khả ái. Thế nào là tám?
TTC 6Ở đây, này Anuruddha, nữ nhân đối với người chồng nào mẹ cha gả cho, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên đối với người ấy, nữ nhân dậy trước, đi ngủ sau cùng, vui lòng nhận mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương. Những ai có người chồng kính trọng Sa-môn, Bà-la-môn như cha mẹ, nữ nhân ấy cung kính tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, và khi họ đến, sẽ dâng hiến chỗ ngồi và nước. Phàm có những việc trong nhà, thuộc về len hay vải bông, ở đây, nữ nhân ấy thông thạo, không biếng nhác, tự tìm phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm. Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, nữ nhân biết công việc của họ với công việc đã làm, biết sự thiếu xót của họ với công việc không làm; biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh; biết chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo từng phần của mình. Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, nữ nhân ấy bảo vệ, phòng hộ chúng, giữ gìn để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại. Nữ cư sĩ quy y Phật, quy y Pháp, Quy y Tăng. Nữ cư sĩ giữ giới, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Nữ cư sĩ bố thí, sống ở gia đình với tâm tư từ bỏ uế của xan tham, bố thí rộng rãi, với bàn tay cởi mở, vui thích từ bỏ, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu, vui thích chia xẻ các vật dụng bố thí. Thành tựu tám pháp này, nữ nhân sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các chư Thiên ấy với thân khả ái.
Hãy thường yêu thương chồng
Luôn nỗ lực cố gắng
Người đem lại lạc thú
Chớ khinh thường người chồng
Chớ làm chồng không vui
Chớ làm chồng tức tối
Với những người ganh tị
Chồng cung kính những ai
Hãy đảnh lễ tất cả
Vì nàng người có trí
Hoạt động thật nhanh nhẹn
Giữa các người làm việc
Xử sự thật khả ái
Biết giữ tài sản chồng
Người vợ xử như vậy
Làm thỏa mãn ước vọng,
Ưa thích của người chồng,
Sẽ được sanh tại chỗ
Các chư Thiên khả ái.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.46
- 5. Sabbath
Anuruddha and the Agreeable Deities
6. Kinh Anuruddha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā anuruddho divāvihāraṁ gato hoti paṭisallīno. Atha kho sambahulā manāpakāyikā devatā yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ anuruddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā devatā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ:
“mayaṁ, bhante anuruddha, manāpakāyikā nāma devatā tīsu ṭhānesu issariyaṁ kārema vasaṁ vattema. Mayaṁ, bhante anuruddha, yādisakaṁ vaṇṇaṁ ākaṅkhāma tādisakaṁ vaṇṇaṁ ṭhānaso paṭilabhāma; yādisakaṁ saraṁ ākaṅkhāma tādisakaṁ saraṁ ṭhānaso paṭilabhāma; yādisakaṁ sukhaṁ ākaṅkhāma tādisakaṁ sukhaṁ ṭhānaso paṭilabhāma. Mayaṁ, bhante anuruddha, manāpakāyikā nāma devatā imesu tīsu ṭhānesu issariyaṁ kārema vasaṁ vattemā”ti.
At one time the Buddha was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery.
Now at that time Venerable Anuruddha had gone into retreat for the day’s meditation. Then several deities of the Agreeable Host went up to Venerable Anuruddha, bowed, stood to one side, and said to him:
“Honorable Anuruddha, we are the deities called ‘Agreeable’. We wield authority and control over three things. We can turn any color we want on the spot. We can get any voice that we want on the spot. We can get any pleasure that we want on the spot. We are the deities called ‘Agreeable’. We wield authority and control over these three things.”
46. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha đi đến nơi nghỉ ban ngày, đang độc cư. Khi ấy, đông đảo các vị thiên nữ Manāpakāyikā đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Anuruddha rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, các vị thiên nữ ấy bạch Tôn giả Anuruddha rằng: – ‘Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi là các thiên nữ tên Manāpakāyikā, chúng tôi thực thi quyền lực, làm chủ trong ba phương diện. Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi mong muốn sắc tướng nào, liền lập tức có được sắc tướng ấy; chúng tôi mong muốn âm thanh nào, liền lập tức có được âm thanh ấy; chúng tôi mong muốn lạc thú nào, liền lập tức có được lạc thú ấy. Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi là các thiên nữ tên Manāpakāyikā, chúng tôi thực thi quyền lực, làm chủ trong ba phương diện này.’”
Atha kho āyasmato anuruddhassa etadahosi: “aho vatimā devatā sabbāva nīlā assu nīlavaṇṇā nīlavatthā nīlālaṅkārā”ti. Atha kho tā devatā āyasmato anuruddhassa cittamaññāya sabbāva nīlā ahesuṁ nīlavaṇṇā nīlavatthā nīlālaṅkārā.
Then Venerable Anuruddha thought, “If only these deities would all turn blue, of blue color, clad in blue, adorned with blue!” Then those deities, knowing Anuruddha’s thought, all turned blue.
Khi ấy, Tôn giả Anuruddha khởi lên ý nghĩ này: – ‘Ồ, giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu xanh, có sắc xanh, y phục xanh, trang sức xanh.’ Bấy giờ, các vị thiên nữ ấy, biết được tâm niệm của Tôn giả Anuruddha, tất cả đều trở thành màu xanh, có sắc xanh, y phục xanh, trang sức xanh.
Atha kho āyasmato anuruddhassa etadahosi: “aho vatimā devatā sabbāva pītā assu …pe…
sabbāva lohitakā assu …
sabbāva odātā assu odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā”ti. Atha kho tā devatā āyasmato anuruddhassa cittamaññāya sabbāva odātā ahesuṁ odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā.
Then Venerable Anuruddha thought, “If only these deities would all turn yellow …”
“If only these gods would all turn red …”
“If only these gods would all turn white …” Then those deities, knowing Anuruddha’s thought, all turned white.
Khi ấy, Tôn giả Anuruddha khởi lên ý nghĩ này: – ‘Ồ, giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu vàng... ... giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu đỏ... giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu trắng, có sắc trắng, y phục trắng, trang sức trắng.’ Bấy giờ, các vị thiên nữ ấy, biết được tâm niệm của Tôn giả Anuruddha, tất cả đều trở thành màu trắng, có sắc trắng, y phục trắng, trang sức trắng.
Atha kho tā devatā ekā ca gāyi ekā ca nacci ekā ca accharaṁ vādesi. Seyyathāpi nāma pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭipatāḷitassa kusalehi susamannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca kamanīyo ca pemanīyo ca madanīyo ca; evamevaṁ tāsaṁ devatānaṁ alaṅkārānaṁ saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca kamanīyo ca pemanīyo ca madanīyo ca. Atha kho āyasmā anuruddho indriyāni okkhipi.
Then one of those deities sang, one danced, and one snapped her fingers. Suppose there was a quintet made up of skilled musicians who had practiced well and kept excellent rhythm. They’d sound graceful, tantalizing, sensuous, endearing, and intoxicating. In the same way the performance by those deities sounded graceful, tantalizing, sensuous, endearing, and intoxicating. But Venerable Anuruddha averted his senses.
Khi ấy, trong các vị thiên nữ ấy, một vị hát, một vị múa, và một vị vỗ tay. Ví như âm thanh của dàn nhạc ngũ âm, được chuẩn bị kỹ lưỡng, được thử nghiệm kỹ càng, được các nhạc công tài ba hòa tấu nhịp nhàng, thì du dương, quyến rũ, đáng yêu, đáng mến, và mê hoặc; cũng vậy, âm thanh từ trang sức của các vị thiên nữ ấy du dương, quyến rũ, đáng yêu, đáng mến, và mê hoặc. Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha thu thúc các căn.
Atha kho tā devatā “na khvayyo anuruddho sādiyatī”ti tatthevantaradhāyiṁsu. Atha kho āyasmā anuruddho sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā anuruddho bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, divāvihāraṁ gato homi paṭisallīno. Atha kho, bhante, sambahulā manāpakāyikā devatā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhante, tā devatā maṁ etadavocuṁ: ‘mayaṁ, bhante anuruddha, manāpakāyikā nāma devatā tīsu ṭhānesu issariyaṁ kārema vasaṁ vattema. Mayaṁ, bhante anuruddha, yādisakaṁ vaṇṇaṁ ākaṅkhāma tādisakaṁ vaṇṇaṁ ṭhānaso paṭilabhāma; yādisakaṁ saraṁ ākaṅkhāma tādisakaṁ saraṁ ṭhānaso paṭilabhāma; yādisakaṁ sukhaṁ ākaṅkhāma tādisakaṁ sukhaṁ ṭhānaso paṭilabhāma. Mayaṁ, bhante anuruddha, manāpakāyikā nāma devatā imesu tīsu ṭhānesu issariyaṁ kārema vasaṁ vattemā’ti.
Then those deities, thinking “Master Anuruddha isn’t enjoying this,” vanished right there. Then in the late afternoon, Anuruddha came out of retreat and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding:
Bạch Thế Tôn, khi ấy, các vị thiên nữ ấy nghĩ rằng: ‘Tôn giả Anuruddha không hoan hỷ,’ liền biến mất ngay tại chỗ. Bạch Thế Tôn, người nữ thành tựu bao nhiêu pháp, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành của các vị trời Manāpakāyikā?’”
– ‘Bạch Thế Tôn, hôm nay con đi đến nơi nghỉ ban ngày, đang độc cư. Bạch Thế Tôn, khi ấy, đông đảo các vị thiên nữ Manāpakāyikā đi đến chỗ con; sau khi đến, đảnh lễ con rồi đứng sang một bên. Bạch Thế Tôn, đứng sang một bên, các vị thiên nữ ấy bạch con rằng: ‘Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi là các thiên nữ tên Manāpakāyikā, chúng tôi thực thi quyền lực, làm chủ trong ba phương diện. Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi mong muốn sắc tướng nào, liền lập tức có được sắc tướng ấy; chúng tôi mong muốn âm thanh nào, liền lập tức có được âm thanh ấy; chúng tôi mong muốn lạc thú nào, liền lập tức có được lạc thú ấy. Thưa Tôn giả Anuruddha, chúng tôi là các thiên nữ tên Manāpakāyikā, chúng tôi thực thi quyền lực, làm chủ trong ba phương diện này.’ Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ này: ‘Ồ, giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu xanh, có sắc xanh, y phục xanh, trang sức xanh.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy, các vị thiên nữ ấy, biết được tâm niệm của con, tất cả đều trở thành màu xanh, có sắc xanh, y phục xanh, trang sức xanh.
Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘aho vatimā devatā sabbāva pītā assu …pe… sabbāva lohitakā assu …pe… sabbāva odātā assu odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā’ti. Atha kho, bhante, tā devatā mama cittamaññāya sabbāva odātā ahesuṁ odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā.
Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ này: ‘Ồ, giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu vàng... ... giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu đỏ... ... giá như tất cả các vị thiên nữ này đều trở thành màu trắng, có sắc trắng, y phục trắng, trang sức trắng.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy, các vị thiên nữ ấy, biết được tâm niệm của con, tất cả đều trở thành màu trắng, có sắc trắng, y phục trắng, trang sức trắng.
Atha kho, bhante, tā devatā ekā ca gāyi ekā ca nacci ekā ca accharaṁ vādesi. Seyyathāpi nāma pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭipatāḷitassa kusalehi susamannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca kamanīyo ca pemanīyo ca madanīyo ca; evamevaṁ tāsaṁ devatānaṁ alaṅkārānaṁ saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca kamanīyo ca pemanīyo ca madanīyo ca. Atha khvāhaṁ, bhante, indriyāni okkhipi.
Atha kho, bhante, tā devatā ‘na khvayyo anuruddho sādiyatī’ti tatthevantaradhāyiṁsu. Katihi nu kho, bhante, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manāpakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“How many qualities do ladies have so that—when their body breaks up, after death—they are reborn in company with the Gods of the Agreeable Host?”
Bạch Thế Tôn, khi ấy, trong các vị thiên nữ ấy, một vị hát, một vị múa, và một vị vỗ tay. Ví như âm thanh của dàn nhạc ngũ âm, được chuẩn bị kỹ lưỡng, được thử nghiệm kỹ càng, được các nhạc công tài ba hòa tấu nhịp nhàng, thì du dương, quyến rũ, đáng yêu, đáng mến, và mê hoặc; cũng vậy, âm thanh từ trang sức của các vị thiên nữ ấy du dương, quyến rũ, đáng yêu, đáng mến, và mê hoặc. Bạch Thế Tôn, bấy giờ con đã thu thúc các căn.
“Aṭṭhahi kho, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manāpakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Katamehi aṭṭhahi?
Idha, anuruddha, mātugāmo yassa mātāpitaro bhattuno denti atthakāmā hitesino anukampakā anukampaṁ upādāya tassa hoti pubbuṭṭhāyinī pacchānipātinī kiṅkārapaṭissāvinī manāpacārinī piyavādinī.
“Anuruddha, when they have eight qualities ladies—when their body breaks up, after death—are reborn in company with the Gods of the Agreeable Host. What eight?
Take the case of a lady whose mother and father give her to a husband wanting what’s best for her, out of kindness and sympathy. She would get up before him and go to bed after him, and be obliging, behaving nicely and speaking politely.
Này Anuruddha, người phụ nữ thành tựu tám pháp, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên Manāpakāyika. Tám pháp ấy là gì? Này Anuruddha, ở đây, người phụ nữ mà cha mẹ, vì mong muốn lợi ích, tìm cầu hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, do lòng thương tưởng, gả cho người chồng nào, đối với người chồng ấy, cô ấy là người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa ý, nói lời khả ái.
Ye te bhattu garuno honti—mātāti vā pitāti vā samaṇabrāhmaṇāti vā—te sakkaroti, garuṁ karoti, māneti, pūjeti, abbhāgate ca āsanodakena paṭipūjeti.
She honors, respects, esteems, and venerates those her husband respects, such as mother and father, and ascetics and brahmins. And when they arrive she serves them with a seat and water.
Những người được chồng kính trọng – hoặc là mẹ, hoặc là cha, hoặc là Sa-môn, Bà-la-môn – cô ấy tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường họ, và đối với những vị khách đến, cô ấy cúng dường bằng chỗ ngồi và nước uống.
Ye te bhattu abbhantarā kammantā—uṇṇāti vā kappāsāti vā—tattha dakkhā hoti analasā tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgatā alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ.
She’s deft and tireless in her husband’s household duties, such as knitting and sewing. She understands how to go about things in order to complete and organize the work.
Những công việc nội bộ của người chồng – hoặc là len, hoặc là bông – cô ấy khéo léo, không lười biếng trong những việc ấy, thành tựu trí tuệ thẩm sát phương tiện thích hợp ở đó, có khả năng làm, có khả năng sắp đặt.
Yo so bhattu abbhantaro antojano—dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā—tesaṁ katañca katato jānāti akatañca akatato jānāti, gilānakānañca balābalaṁ jānāti khādanīyaṁ bhojanīyañcassa paccaṁsena saṁvibhajati.
She knows what work her husband’s domestic bondservants, servants, and workers have completed, and what they’ve left incomplete. She knows who is sick, and who is fit or unwell. She distributes to each a fair portion of fresh and cooked foods.
Đối với những người nội nhân của chồng, hoặc là người hầu, hoặc là người phục dịch, hoặc là người làm công, nàng biết việc gì đã làm là đã làm, việc gì chưa làm là chưa làm; nàng biết sức khỏe hay yếu đuối của những người bệnh; và nàng phân phát vật thực cứng và vật thực mềm cho họ theo phần riêng của mỗi người.
Yaṁ bhattu āharati dhanaṁ vā dhaññaṁ vā jātarūpaṁ vā taṁ ārakkhena guttiyā sampādeti, tattha ca hoti adhuttī athenī asoṇḍī avināsikā.
She ensures that any income her husband earns is guarded and protected, whether money, grain, silver, or gold. She doesn’t overspend, steal, waste, or lose it.
Tài sản, hoặc lúa gạo, hoặc bạc, hoặc vàng mà người chồng mang về, nàng gìn giữ, bảo vệ cho được chu toàn. Và đối với tài sản ấy, nàng không phải là người đam mê cờ bạc, không phải là kẻ trộm cắp, không phải là người nghiện rượu, không phải là người phá hoại.
Upāsikā kho pana hoti buddhaṁ saraṇaṁ gatā dhammaṁ saraṇaṁ gatā saṅghaṁ saraṇaṁ gatā.
She’s a lay follower who has gone for refuge to the Buddha, his teaching, and the Saṅgha.
Lại nữa, nàng là nữ cận sự, đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng.
Sīlavatī kho pana hoti—pāṇātipātā paṭiviratā, adinnādānā paṭiviratā, kāmesumicchācārā paṭiviratā, musāvādā paṭiviratā, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā.
She’s ethical. She doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor.
Lại nữa, nàng là người có giới hạnh, từ bỏ việc sát sanh... cho đến... từ bỏ việc dùng các loại rượu và chất say là nguyên nhân của sự dể duôi...
Cāgavatī kho pana hoti. Vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgā payatapāṇinī vossaggaratā yācayogā dānasaṁvibhāgaratā.
She’s generous. She lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share.
Lại nữa, nàng là người có lòng bố thí, sống tại gia với tâm không còn vết nhơ của keo kiệt, rộng rãi bố thí, bàn tay sẵn sàng, ưa thích xả ly, xứng đáng để được cầu xin, ưa thích việc cho và chia sẻ.
Imehi kho, anuruddha, aṭṭhahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manāpakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatīti.
When they possess these eight qualities ladies—when their body breaks up, after death—are reborn in company with the Gods of the Agreeable Host.
Này Nakulamātā, người phụ nữ nào hội đủ tám pháp này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên Manāpakāyika.
Yo naṁ bharati sabbadā, niccaṁ ātāpi ussuko; Taṁ sabbakāmadaṁ posaṁ, bhattāraṁ nātimaññati.
She’d never look down on her husband, who’s always eager to work hard, always looking after her, and bringing whatever she wants.
Người chồng nào luôn nuôi dưỡng nàng, thường xuyên nhiệt tâm, tinh cần; nàng không coi thường người chồng ấy, người đàn ông mang lại mọi điều mong muốn.
Na cāpi sotthi bhattāraṁ, issāvādena rosaye; Bhattu ca garuno sabbe, paṭipūjeti paṇḍitā.
And a good woman never scolds her husband with jealous words. Being astute, she reveres those respected by her husband.
Người vợ hiền không làm chồng tức giận bằng lời nói ganh tỵ; người vợ trí tuệ tôn kính tất cả những ai được chồng kính trọng.
Uṭṭhāhikā analasā, saṅgahitaparijjanā; Bhattu manāpaṁ carati, sambhataṁ anurakkhati.
She gets up early, works tirelessly, and manages the domestic help. She’s agreeable to her husband, and preserves his wealth.
Nàng siêng năng, không lười biếng, khéo quản lý những người tùy tùng; nàng làm những điều đẹp lòng chồng, và gìn giữ tài sản do chồng làm ra.
Yā evaṁ vattati nārī, bhattu chandavasānugā; Manāpā nāma te devā, yattha sā upapajjatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
A lady who fulfills these duties according to her husband’s desire, is reborn among the gods called ‘Agreeable’.”
Người phụ nữ nào sống như vậy, thuận theo ý muốn của chồng, sẽ được sanh vào cõi của chư thiên tên là Manāpā (Khả Ái). (Kinh thứ) tám.