- Aṅguttara Nikāya 8.3
- 1. Mettāvagga
Bản dịch
AN 8.3 — Các Pháp Không Ðược Ái Mộ (1)
Paṭhamaappiyasutta
TTC 1—Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, kính trọng và bắt chước. Thế nào là tám?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tán thán những người không được ái mộ, chỉ trích những người được ái mộ, ưa lợi dưỡng, ưa được cung kính, không có lòng xấu hổ, không có sợ hãi, ác dục và có tà kiến.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, kính trọng và bắt chước.
TTC 3Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, kính trọng và bắt chước. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tám?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tán thán những người không được ái mộ, không chỉ trích những người được ái mộ, không ưa lợi dưỡng, không ưa được cung kính, có lòng xấu hổ, có sợ hãi, ít dục và có chánh kiến.
Thành tựu tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, kính trọng và bắt chước.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.3
- 1. Love
Disliked (1st)
3. Kinh Appiya Thứ Nhất
“Aṭṭhahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ appiyo ca hoti amanāpo ca agaru ca abhāvanīyo ca. Katamehi aṭṭhahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu appiyapasaṁsī ca hoti, piyagarahī ca, lābhakāmo ca, sakkārakāmo ca, ahiriko ca, anottappī ca, pāpiccho ca, micchādiṭṭhi ca. Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ appiyo ca hoti amanāpo ca agaru ca abhāvanīyo ca.
“Mendicants, a mendicant with eight qualities is disliked and disapproved by their spiritual companions, not respected or admired. What eight? It’s when a mendicant praises the disliked and criticizes the liked. They desire material things and honor. They lack conscience and prudence. They have corrupt wishes and wrong view. A mendicant with these eight qualities is disliked and disapproved by their spiritual companions, not respected or admired.
3. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hội đủ tám pháp sẽ không được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, không được ưa thích, không được kính trọng, và không được tôn trọng. Tám pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tán thán người không đáng yêu mến, chê bai người đáng yêu mến, tham muốn lợi lộc, tham muốn được cung kính, không có hổ thẹn, không có ghê sợ tội lỗi, có ước muốn xấu xa, và có tà kiến. Này các Tỳ khưu, chính do hội đủ tám pháp này mà vị Tỳ khưu không được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, không được ưa thích, không được kính trọng, và không được tôn trọng.”
Aṭṭhahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca. Katamehi aṭṭhahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu na appiyapasaṁsī ca hoti, na piyagarahī ca, na lābhakāmo ca, na sakkārakāmo ca, hirīmā ca hoti, ottappī ca, appiccho ca, sammādiṭṭhi ca. Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi dhammehi samannāgato bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo cā”ti.
Tatiyaṁ.
A mendicant with eight qualities is liked and approved by their spiritual companions, and respected and admired. What eight? It’s when a mendicant doesn’t praise the disliked and criticize the liked. They don’t desire material things and honor. They have conscience and prudence. They have few desires and right view. A mendicant with these eight qualities is liked and approved by their spiritual companions, and respected and admired.”
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hội đủ tám pháp sẽ được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, được ưa thích, được kính trọng, và được tôn trọng. Tám pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu không tán thán người không đáng yêu mến, không chê bai người đáng yêu mến, không tham muốn lợi lộc, không tham muốn được cung kính, có hổ thẹn, có ghê sợ tội lỗi, ít mong muốn, và có chánh kiến. Này các Tỳ khưu, chính do hội đủ tám pháp này mà vị Tỳ khưu được các bạn đồng phạm hạnh yêu mến, được ưa thích, được kính trọng, và được tôn trọng.” Hết kinh thứ ba.