- Aṅguttara Nikāya 7.68
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
AN 7.68 — Pháp Trí
Dhammaññūsutta
TTC 1—Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng, biết người thắng kẻ liệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết pháp?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết pháp: Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết pháp: Khế kinh, Ứng tụng… Phương quảng, vị ấy ở đây không được gọi là vị biết pháp. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết pháp: Khế kinh, Ứng tụng… Phương quảng; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết pháp. Như vậy là biết pháp. Thế nào là biết nghĩa?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết nghĩa. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết nghĩa. Ðây là biết pháp, biết nghĩa. Thế nào là tự biết?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự biết; “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết tự ngã như vầy: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết tự ngã. Nếu Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, biết tự ngã: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết tự ngã. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết. Và thế nào là biết ước lượng?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ước lượng (vừa đủ) trong khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thời vị ấy ở đây không được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; do vậy vị ấy được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết ước lượng. Và thế nào là biết thời?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết thời: “Ðây là thời để tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết thời: “Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”, thời ở đây, vị ấy được gọi là không biết thời. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết thời: Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết thời. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời. Và thế nào là biết hội chúng?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là “Vị biết hội chúng”. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”; do vậy, được gọi là “Vị biết hội chúng”. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời, biết hội chúng. Và thế nào là biết người thắng liệt?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng: một hạng ưa thấy các bậc Thánh, một hạng không ưa thấy các bậc Thánh. Người này không ưa thấy các bậc Thánh, do có việc ấy, đáng bị quở trách. Còn người này ưa thấy các bậc Thánh, do việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người ưa nghe diệu pháp, một hạng người không ưa nghe diệu pháp. Hạng người này không ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người lắng tai nghe diệu pháp, một hạng người không lắng tai nghe diệu pháp. Hạng người này không lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người lắng tai nghe pháp: một hạng người nghe xong, thọ trì pháp; một hạng người nghe xong, không thọ trì pháp. Người này nghe xong không thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Người này nghe xong thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe xong thọ trì pháp: một hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, một hạng người không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì. Hạng người này không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được quở trách. Hạng người này quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì: một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, đã thực hành pháp; tùy pháp; một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp; tùy pháp: một hạng người thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha; một hạng người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết hạng người thắng liệt.
Do thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.68
- 7. The Great Chapter
One Who Knows the Teachings
4. Kinh Người Biết Pháp
“Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi sattahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaparoparaññū ca.
“A mendicant with seven qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What seven? It’s when a mendicant knows the teachings, knows the meaning, has self-knowledge, knows moderation, knows the right time, knows assemblies, and knows individuals high and low.
68. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thành tựu bảy pháp là người đáng được cúng dường… (v.v.)… là ruộng phước vô thượng của thế gian. Bảy pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu là người biết Pháp, biết nghĩa, biết tự thân, biết chừng mực, biết thời, biết hội chúng, và biết sự hơn kém của các cá nhân.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ. No ce, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jāneyya—suttaṁ geyyaṁ …pe… abbhutadhammaṁ vedallaṁ, nayidha ‘dhammaññū’ti vucceyya. Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—suttaṁ geyyaṁ …pe… abbhutadhammaṁ vedallaṁ, tasmā ‘dhammaññū’ti vuccati. Iti dhammaññū.
And how is a mendicant one who knows the teachings? It’s when a mendicant knows the teachings: statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. If a mendicant did not know these teachings, they would not be called ‘one who knows the teachings’. But because they do know these teachings, they are called ‘one who knows the teachings’. Such is the one who knows the teachings.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu biết Pháp? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu biết Pháp: Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng. Này các Tỳ khưu, nếu vị Tỳ khưu không biết Pháp: Kinh, Ứng tụng… (v.v.)… Vị tằng hữu pháp, Phương quảng, thì ở đây vị ấy không được gọi là ‘người biết Pháp’. Và này các Tỳ khưu, vì vị Tỳ khưu biết Pháp: Kinh, Ứng tụng… (v.v.)… Vị tằng hữu pháp, Phương quảng, nên vị ấy được gọi là ‘người biết Pháp’. Như vậy là người biết Pháp.
Atthaññū ca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jānāti: ‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti. No ce, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jāneyya: ‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti, nayidha ‘atthaññū’ti vucceyya. Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jānāti: ‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti, tasmā ‘atthaññū’ti vuccati. Iti dhammaññū, atthaññū.
And how are they one who knows the meaning? It’s when a mendicant knows the meaning of this or that statement: ‘This is what that statement means; that is what this statement means.’ If a mendicant did not know the meaning of this or that statement, they would not be called ‘one who knows the meaning’. But because they do know the meaning of this or that statement, they are called ‘one who knows the meaning’. Such is the one who knows the teachings and the one who knows the meaning.
Và thế nào là người biết nghĩa (atthaññū)? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết nghĩa của từng lời dạy ấy: ‘Đây là nghĩa của lời dạy này, đây là nghĩa của lời dạy này.’ Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không biết nghĩa của từng lời dạy ấy: ‘Đây là nghĩa của lời dạy này, đây là nghĩa của lời dạy này,’ thì vị ấy không được gọi là ‘người biết nghĩa.’ Và này các tỳ khưu, vì vị tỳ khưu biết nghĩa của từng lời dạy ấy: ‘Đây là nghĩa của lời dạy này, đây là nghĩa của lời dạy này,’ nên vị ấy được gọi là ‘người biết nghĩa.’ Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa.
Attaññū ca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti: ‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti. No ce, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jāneyya: ‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti, nayidha ‘attaññū’ti vucceyya. Yasmā ca, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti: ‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti, tasmā ‘attaññū’ti vuccati. Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū.
And how are they one who has self-knowledge? It’s when a mendicant has self-knowledge: ‘This is the extent of my faith, ethics, learning, generosity, wisdom, and eloquence.’ If a mendicant did not have self-knowledge, they would not be called ‘one who has self-knowledge’. But because they do have self-knowledge, they are called ‘one who has self-knowledge’. Such is the one who knows the teachings, the one who knows the meaning, and the one who has self-knowledge.
Và thế nào là người biết mình (attaññū)? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết về mình rằng: ‘Ta có chừng này về đức tin, về giới hạnh, về sự học hỏi, về sự xả ly, về trí tuệ, về sự ứng đối.’ Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không biết về mình rằng: ‘Ta có chừng này về đức tin, về giới hạnh, về sự học hỏi, về sự xả ly, về trí tuệ, về sự ứng đối,’ thì vị ấy không được gọi là ‘người biết mình.’ Và này các tỳ khưu, vì vị tỳ khưu biết về mình rằng: ‘Ta có chừng này về đức tin, về giới hạnh, về sự học hỏi, về sự xả ly, về trí tuệ, về sự ứng đối,’ nên vị ấy được gọi là ‘người biết mình.’ Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết mình.
Mattaññū ca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya. No ce, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jāneyya cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya, nayidha ‘mattaññū’ti vucceyya. Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya, tasmā ‘mattaññū’ti vuccati. Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū.
And how are they one who knows moderation? It’s when a mendicant knows moderation when receiving robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. If a mendicant did not know moderation, they would not be called ‘one who knows moderation’. But because they do know moderation, they are called ‘one who knows moderation’. Such is the one who knows the teachings, the one who knows the meaning, the one who has self-knowledge, and the one who knows moderation.
Và thế nào là người biết chừng mực (mattaññū)? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết chừng mực trong việc thọ nhận y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không biết chừng mực trong việc thọ nhận y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, thì vị ấy không được gọi là ‘người biết chừng mực.’ Và này các tỳ khưu, vì vị tỳ khưu biết chừng mực trong việc thọ nhận y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, nên vị ấy được gọi là ‘người biết chừng mực.’ Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết mình, người biết chừng mực.
Kālaññū ca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti: ‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti. No ce, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jāneyya: ‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti, nayidha ‘kālaññū’ti vucceyya. Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti: ‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti, tasmā ‘kālaññū’ti vuccati. Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū, kālaññū.
And how are they one who knows the right time? It’s when a mendicant knows the right time: ‘This is the time for recitation; this is the time for questioning; this is the time for meditation; this is the time for retreat.’ If a mendicant did not know the right time, they would not be called ‘one who knows the right time’. But because they do know the right time, they are called ‘one who knows the right time’. Such is the one who knows the teachings, the one who knows the meaning, the one who has self-knowledge, the one who knows moderation, and the one who knows the right time.
Và thế nào là người biết thời (kālaññū)? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết thời: ‘Đây là thời để học hỏi, đây là thời để tra vấn, đây là thời để hành thiền, đây là thời để độc cư.’ Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không biết thời: ‘Đây là thời để học hỏi, đây là thời để tra vấn, đây là thời để hành thiền, đây là thời để độc cư,’ thì vị ấy không được gọi là ‘người biết thời.’ Và này các tỳ khưu, vì vị tỳ khưu biết thời: ‘Đây là thời để học hỏi, đây là thời để tra vấn, đây là thời để hành thiền, đây là thời để độc cư,’ nên vị ấy được gọi là ‘người biết thời.’ Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết mình, người biết chừng mực, người biết thời.
Parisaññū ca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti: ‘ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā. Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti. No ce, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jāneyya: ‘ayaṁ khattiyaparisā …pe… evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti, nayidha ‘parisaññū’ti vucceyya. Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti: ‘ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā. Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti, tasmā ‘parisaññū’ti vuccati. Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū, kālaññū, parisaññū.
Puggalaparoparaññū ca kathaṁ hoti?
And how are they one who knows assemblies? It’s when a mendicant knows assemblies: ‘This is an assembly of aristocrats, of brahmins, of householders, or of ascetics. This one should be approached in this way. This is how to stand, to act, to sit, to speak, or to stay silent when there.’ If a mendicant did not know assemblies, they would not be called ‘one who knows assemblies’. But because they do know assemblies, they are called ‘one who knows assemblies’. Such is the one who knows the teachings, the one who knows the meaning, the one who has self-knowledge, the one who knows moderation, the one who knows the right time, and the one who knows assemblies.
And how are they one who knows individuals high and low?
Và thế nào là người biết hội chúng (parisaññū)? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết hội chúng: ‘Đây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng gia chủ, đây là hội chúng sa-môn. Ở đó, nên đến gần như thế này, nên đứng như thế này, nên làm như thế này, nên ngồi như thế này, nên nói như thế này, nên im lặng như thế này.’ Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu không biết hội chúng: ‘Đây là hội chúng Sát-đế-lỵ... nên im lặng như thế này,’ thì vị ấy không được gọi là ‘người biết hội chúng.’ Và này các tỳ khưu, vì vị tỳ khưu biết hội chúng: ‘Đây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng gia chủ, đây là hội chúng sa-môn. Ở đó, nên đến gần như thế này, nên đứng như thế này, nên làm như thế này, nên ngồi như thế này, nên nói như thế này, nên im lặng như thế này,’ nên vị ấy được gọi là ‘người biết hội chúng.’ Như vậy là người biết Pháp, người biết nghĩa, người biết mình, người biết chừng mực, người biết thời, người biết hội chúng.
Và thế nào là người biết sự hơn kém của các cá nhân (puggalaparoparaññū)? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết các cá nhân theo hai phương diện. Có hai hạng người: một người muốn gặp các bậc Thánh, một người không muốn gặp các bậc Thánh. Người nào không muốn gặp các bậc Thánh, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng bị chê trách. Người nào muốn gặp các bậc Thánh, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng được tán dương.
Dve puggalā ariyānaṁ dassanakāmā—eko saddhammaṁ sotukāmo, eko saddhammaṁ na sotukāmo. Yvāyaṁ puggalo saddhammaṁ na sotukāmo, evaṁ so tenaṅgena gārayho. Yvāyaṁ puggalo saddhammaṁ sotukāmo, evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso.
Two individuals like to see the noble ones: one likes to hear the true teaching, one does not. The individual who doesn’t like to hear the true teaching is reprehensible in that respect. The individual who does like to hear the true teaching is praiseworthy in that respect.
Trong hai hạng người muốn gặp các bậc Thánh, có một người muốn nghe diệu Pháp, một người không muốn nghe diệu Pháp. Người nào không muốn nghe diệu Pháp, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng bị chê trách. Người nào muốn nghe diệu Pháp, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng được tán dương.
Dve puggalā saddhammaṁ sotukāmā—eko ohitasoto dhammaṁ suṇāti, eko anohitasoto dhammaṁ suṇāti. Yvāyaṁ puggalo anohitasoto dhammaṁ suṇāti, evaṁ so tenaṅgena gārayho. Yvāyaṁ puggalo ohitasoto dhammaṁ suṇāti, evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso.
Two individuals like to hear the true teaching: one actively listens to the teaching, one does not. The individual who doesn’t actively listen to the teaching is reprehensible in that respect. The individual who does actively listen to the teaching is praiseworthy in that respect.
Trong hai hạng người muốn nghe diệu Pháp, có một người lắng tai nghe Pháp, một người không lắng tai nghe Pháp. Người nào không lắng tai nghe Pháp, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng bị chê trách. Người nào lắng tai nghe Pháp, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng được tán dương.
Dve puggalā ohitasotā dhammaṁ suṇanti—eko sutvā dhammaṁ dhāreti, eko sutvā dhammaṁ na dhāreti. Yvāyaṁ puggalo sutvā na dhammaṁ dhāreti, evaṁ so tenaṅgena gārayho. Yvāyaṁ puggalo sutvā dhammaṁ dhāreti, evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso.
Two individuals actively listen to the teaching: one remembers the teaching they’ve heard, one does not. The individual who doesn’t remember the teaching they’ve heard is reprehensible in that respect. The individual who does remember the teaching they’ve heard is praiseworthy in that respect.
Trong hai hạng người lắng tai nghe Pháp, có một người sau khi nghe đã ghi nhớ Pháp, một người sau khi nghe đã không ghi nhớ Pháp. Người nào sau khi nghe đã không ghi nhớ Pháp, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng bị chê trách. Người nào sau khi nghe đã ghi nhớ Pháp, do đặc điểm ấy mà người ấy đáng được tán dương.
Dve puggalā sutvā dhammaṁ dhārenti—eko dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, eko dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ na upaparikkhati. Yvāyaṁ puggalo dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ na upaparikkhati, evaṁ so tenaṅgena gārayho. Yvāyaṁ puggalo dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso.
Two individuals remember the teaching they’ve heard: one examines the meaning of the teachings they have remembered, one does not. The individual who does not examine the meaning of the teachings they have remembered is reprehensible in that respect. The individual who does examine the meaning of the teachings they have remembered is praiseworthy in that respect.
“Có hai hạng người sau khi nghe Pháp rồi ghi nhớ. Một người thẩm xét ý nghĩa của các pháp đã được ghi nhớ, một người không thẩm xét ý nghĩa của các pháp đã được ghi nhớ. Vị nào không thẩm xét ý nghĩa của các pháp đã được ghi nhớ, vị ấy đáng bị khiển trách vì lý do ấy. Vị nào thẩm xét ý nghĩa của các pháp đã được ghi nhớ, vị ấy đáng được tán dương vì lý do ấy.
Dve puggalā dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhanti—eko atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno, eko atthamaññāya dhammamaññāya na dhammānudhammappaṭipanno. Yvāyaṁ puggalo atthamaññāya dhammamaññāya na dhammānudhammappaṭipanno, evaṁ so tenaṅgena gārayho. Yvāyaṁ puggalo atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno, evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso.
Dve puggalā atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipannā—eko attahitāya paṭipanno no parahitāya, eko attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca. Yvāyaṁ puggalo attahitāya paṭipanno no parahitāya, evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Two individuals examine the meaning of the teachings they have remembered: one understands the meaning and the teaching and practicesin line with the teaching, one understands the meaning and the teaching but does not practice in line with the teaching. The individual who understands the meaning and the teaching but does not practice in line with the principle of the teaching is reprehensible in that respect. The individual who understands the meaning and the teaching and practices in line with the principle of the teaching is praiseworthy in that respect.
Two individuals understand the meaning and the teaching and practice in line with the teaching: one practices to benefit themselves but not others, and one practices to benefit both themselves and others. The individual who practices to benefit themselves but not others is reprehensible in that respect.
“Có hai hạng người thẩm xét ý nghĩa của các pháp đã được ghi nhớ. Một người, sau khi hiểu nghĩa, hiểu Pháp, thực hành pháp tùy pháp; một người, sau khi hiểu nghĩa, hiểu Pháp, không thực hành pháp tùy pháp. Vị nào sau khi hiểu nghĩa, hiểu Pháp, không thực hành pháp tùy pháp, vị ấy đáng bị khiển trách vì lý do ấy. Vị nào sau khi hiểu nghĩa, hiểu Pháp, thực hành pháp tùy pháp, vị ấy đáng được tán dương vì lý do ấy.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno dvayena puggalā viditā honti.
Evaṁ, bhikkhave, bhikkhu puggalaparoparaññū hoti. Imehi kho, bhikkhave, sattahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Catutthaṁ.
That’s how a mendicant understands individuals in terms of pairs.
That’s how a mendicant is one who knows individuals high and low. A mendicant with these seven qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
“Có hai hạng người, sau khi hiểu nghĩa, hiểu Pháp, thực hành pháp tùy pháp. Một người thực hành vì tự lợi, không vì lợi tha; một người thực hành vì tự lợi và vì lợi tha. Vị nào thực hành vì tự lợi, không vì lợi tha, vị ấy đáng bị khiển trách vì lý do ấy. Vị nào thực hành vì tự lợi và vì lợi tha, vị ấy đáng được tán dương vì lý do ấy. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu biết được các hạng người theo hai phương diện. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu là người biết sự hơn kém của các hạng người. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào thành tựu bảy pháp này thì đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp... là ruộng phước vô thượng cho đời.” Hết kinh thứ tư.