- Aṅguttara Nikāya 7.67
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
AN 7.67 — Thành Trì
Nagaropamasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, khi nào một thành trì biên địa của vua được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì, và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc; có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Thế nào là được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đào sâu, không bị dao động, không bị lay chuyển. Với trang bị thành trì thứ nhất này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường thông hào sâu và rộng. Với trang bị thành trì thứ hai này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường chạy vòng xung quanh vừa cao và vừa rộng. Với trang bị thành trì thứ ba này của một thành trì, là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa như Salàkam (cung tên) và Jevanìyam (cây lao) với trang bị thành trì thứ tư này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, các quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những người con của các nô tỳ. Với trang bị thành trì thứ năm này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua, có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết. Với sự trang bị thành trì thứ sáu này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt có trét vôi hồ. Với sự trang bị thành trì thứ bảy này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
Với bảy loại trang bị thành trì này, thành trì được xem là được khéo trang bị. Thế nào là bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lùa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều dược phẩm, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.
Bốn loại đồ ăn này, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, một thành trì biên địa của vua, được khéo trang bị với bảy món trang bị này của một thành trì và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu với bảy diệu pháp và bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử này được gọi là không bị Ma chinh phục, không bị ác chinh phục. Vị ấy thành tựu bảy pháp gì?
TTC 13Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đóng, không bị dao động, không bị lay chuyển để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Với lòng tin làm cột trụ, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ nhất này, vị ấy được thành tựu.
TTC 14Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường thông hào, vừa sâu và rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng xấu hổ. Vị ấy xấu hổ vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy xấu hổ vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy xấu hổ làm con đường thông hào, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ hai này, vị ấy được thành tựu.
TTC 15Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường đi vòng chung quanh, vừa cao vừa rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy sợ hãi vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy sợ hãi làm con đường đi vòng xung quanh, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ ba này, vị ấy được thành tựu.
TTC 16Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa, như cung tên và cây lao để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như vậy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc cho thành thục, được ý khéo tùy quán, được khéo thể nhập với tri kiến. Lấy nghe nhiều làm vũ khí, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ tư này, vị ấy được thành tựu.
TTC 17Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, những quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những con của nô tỳ, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Lấy tinh tấn làm quân đội, này các Tỷ-kheo, vị thiện nam tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ năm này, vị ấy được thành tựu.
TTC 18Ví như, này các Tỷ kheo, trong thành trì biên địa của vua có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống có chánh niệm thành tựu tối thắng niệm tuệ, nhớ đến và tùy niệm việc làm đã lâu ngày, lời nói đã lâu ngày. Với niệm làm người giữ cửa thành, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện pháp từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ sáu này, vị ấy được thành tựu.
TTC 19Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt trét vôi hồ để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự Thánh thể nhập vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Với trí tuệ làm lớp vôi hồ trét bên ngoài, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ bảy này, vị ấy được thành tựu.
Với bảy diệu pháp này, vị ấy thành tựu. Thế nào là bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?
TTC 20Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 21Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lúa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 22Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 23Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều dược phẩm được cất chứa ví như thục tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do đoạn lạc, do đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
Bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp này và bốn Thiền này, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đệ tử không bị ma chinh phục, không bị ác chinh phục.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.67
- 7. The Great Chapter
The Simile of the Citadel
3. Kinh Ví Dụ Thành Trì
“Yato kho, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti, catunnañca āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī. Idaṁ vuccati, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ akaraṇīyaṁ bāhirehi paccatthikehi paccāmittehi.
“Mendicants, when a king’s frontier citadel is well provided with seven essentials and gets four kinds of sustenance when needed, without trouble or difficulty, it is then called a king’s frontier citadel that cannot be overrun by external foes and enemies.
67. Này các Tỳ khưu, khi nào thành trì biên giới của một vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng bằng bảy công sự phòng thủ, và vị ấy có được bốn loại vật thực một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc, thì này các Tỳ khưu, thành trì biên giới ấy của vị vua được gọi là bất khả xâm phạm bởi các kẻ thù, các đối phương từ bên ngoài.
Katamehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti?
Idha, bhikkhave, rañño paccantime nagare esikā hoti gambhīranemā sunikhātā acalā asampavedhī. Iminā paṭhamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
With what seven essentials is a citadel well provided?
Firstly, a citadel has a pillar with deep foundations, firmly embedded, imperturbable and unshakable. This is the first essential with which a king’s frontier citadel is well provided, to defend those within and repel those outside.
Bảy công sự phòng thủ nào đã bảo vệ kỹ lưỡng thành trì? Này các Tỳ khưu, ở đây, trong thành trì biên giới của một vị vua, có một cột trụ được chôn sâu, được cắm kỹ, không lay động, không rung chuyển. Với công sự phòng thủ thứ nhất này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare parikkhā hoti gambhīrā ceva vitthatā ca. Iminā dutiyena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, a citadel has a moat that is deep and wide. This is the second essential …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành trì biên giới của một vị vua, có một hào nước vừa sâu vừa rộng. Với công sự phòng thủ thứ hai này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare anupariyāyapatho hoti ucco ceva vitthato ca. Iminā tatiyena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, a citadel has a patrol path that is high and wide. This is the third essential …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành trì biên giới của một vị vua, có một con đường tuần tra vừa cao vừa rộng. Với công sự phòng thủ thứ ba này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ āvudhaṁ sannicitaṁ hoti salākañceva jevanikañca. Iminā catutthena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, a citadel has stores of many weapons, both projectile and hand-held. This is the fourth essential …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành trì biên giới của một vị vua, có nhiều vũ khí được cất giữ, cả loại vũ khí phóng đi lẫn các loại khác. Với công sự phòng thủ thứ tư này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahubalakāyo paṭivasati, seyyathidaṁ—hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsakaputtā. Iminā pañcamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, many kinds of armed forces reside in a citadel, such as elephant marshals, cavalry, charioteers, archers, bannermen, adjutants, food servers, warrior-chiefs, princes, chargers, great warriors, heroes, leather-clad soldiers, and sons of bondservants. This is the fifth essential …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành trì biên giới của một vị vua, có một đạo quân đông đảo trú đóng, gồm có: lính cưỡi voi, kỵ binh, lính xa binh, cung thủ, người cầm cờ hiệu, người tập hợp quân, lính cảm tử, các vương tử ưu tú, lính đột kích, các dũng sĩ, các anh hùng, lính mặc giáp da, và con của các gia nhân. Với công sự phòng thủ thứ năm này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare dovāriko hoti paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā. Iminā chaṭṭhena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, a citadel has a gatekeeper who is astute, competent, and intelligent. He keeps strangers out and lets known people in. This is the sixth essential …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành trì biên giới của một vị vua, có một người gác cổng thông thái, tài giỏi, trí tuệ, người ngăn chặn những kẻ không quen biết và cho phép những người quen biết đi vào. Với công sự phòng thủ thứ sáu này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare pākāro hoti ucco ceva vitthato ca vāsanalepanasampanno ca. Iminā sattamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Imehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti.
Furthermore, a citadel has a wall that’s high and wide, covered with plaster. This is the seventh essential with which a king’s frontier citadel is well provided, to defend those within and repel those outside.
With these seven essentials a citadel is well provided.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành trì biên giới của một vị vua, có một bức tường thành vừa cao vừa rộng, được trát vữa kỹ càng. Với công sự phòng thủ thứ bảy này, thành trì biên giới của vị vua được bảo vệ kỹ lưỡng để che chở cho những người bên trong và để chống lại những kẻ bên ngoài. Thành trì được bảo vệ kỹ lưỡng bởi bảy công sự phòng thủ này.
Katamesaṁ catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī?
Idha, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tiṇakaṭṭhodakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
What are the four kinds of sustenance it gets when needed, without trouble or difficulty?
Firstly, a king’s frontier citadel has much hay, wood, and water stored up for the enjoyment, relief, and comfort of those within and to repel those outside.
Bốn loại vật thực nào được nhận lãnh theo ý muốn, được nhận lãnh không khó khăn, được nhận lãnh không mệt nhọc? Này các Tỳ khưu, ở đây, trong thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều cỏ, củi, và nước được tích trữ để cho những người ở bên trong được vui thích, không lo sợ, được an trú thoải mái, và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ sāliyavakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, a king’s frontier citadel has much rice and barley stored up for those within.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều lúa gạo và lúa mạch được tích trữ để cho những người ở bên trong được vui thích, không lo sợ, được an trú thoải mái, và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tilamuggamāsāparaṇṇaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Furthermore, a king’s frontier citadel has much food such as sesame, green gram, and black gram stored up for those within.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều mè, đậu xanh, đậu muồng, và các loại đậu khác được tích trữ để cho những người ở bên trong được vui thích, không lo sợ, được an trú thoải mái, và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ bhesajjaṁ sannicitaṁ hoti, seyyathidaṁ—sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Imesaṁ kho, bhikkhave, catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Furthermore, a king’s frontier citadel has much medicine—ghee, butter, oil, honey, molasses, and salt—stored up for the enjoyment, relief, and comfort of those within and to repel those outside.
These are the four kinds of sustenance it gets when needed, without trouble or difficulty.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, trong thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều dược phẩm được tích trữ, ví như là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn, muối, để cho những người ở bên trong được vui thích, không lo sợ, được an trú thoải mái, và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài. Này các Tỳ khưu, bốn loại vật thực này được nhận lãnh theo ý muốn, được nhận lãnh không khó khăn, được nhận lãnh không mệt nhọc.
Yato kho, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ imehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti, imesañca catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī. Idaṁ vuccati, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ akaraṇīyaṁ bāhirehi paccatthikehi paccāmittehi. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yato ariyasāvako sattahi saddhammehi samannāgato hoti, catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako akaraṇīyo mārassa akaraṇīyo pāpimato. Katamehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti?
When a king’s frontier citadel is well provided with seven essentials and gets four kinds of sustenance when needed, without trouble or difficulty, it is then called a king’s frontier citadel that cannot be overrun by external foes and enemies. In the same way, when a noble disciple has seven good qualities, and they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty, they are then called a noble disciple who cannot be overrun by Māra, who cannot be overrun by the Wicked One. What are the seven good qualities that they possess?
Này các Tỳ khưu, khi nào thành phố biên thùy của đức vua được phòng hộ kỹ lưỡng bởi bảy trang bị phòng hộ thành trì này, và bốn loại vật thực này được nhận lãnh theo ý muốn, được nhận lãnh không khó khăn, được nhận lãnh không mệt nhọc, này các Tỳ khưu, khi ấy thành phố biên thùy của đức vua được gọi là không thể bị xâm hại bởi những kẻ đối nghịch, những kẻ thù từ bên ngoài. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử được thành tựu bảy diệu pháp, và bốn thiền thuộc về tăng thượng tâm, đem lại sự an trú thoải mái trong hiện tại, được vị ấy nhận lãnh theo ý muốn, được nhận lãnh không khó khăn, được nhận lãnh không mệt nhọc, này các Tỳ khưu, khi ấy vị Thánh đệ tử này được gọi là không thể bị Ma vương xâm hại, không thể bị Ác ma xâm hại. Vị ấy được thành tựu bảy diệu pháp nào?
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare esikā hoti gambhīranemā sunikhātā acalā asampavedhī abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ ‘itipi so …pe… buddho bhagavā’ti. Saddhesiko, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā paṭhamena saddhammena samannāgato hoti.
Just as a king’s frontier citadel has a pillar with deep foundations, firmly embedded, imperturbable and unshakable, to defend those within and repel those outside, in the same way a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ A noble disciple with faith as their pillar gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the first good quality they have.
Này các Tỳ khưu, ví như trong thành phố biên thùy của đức vua có một cột trụ được chôn sâu, được cắm chặt, không lay động, không rung chuyển, để bảo vệ những người ở bên trong và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có đức tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai rằng: ‘Vì lý do này, vị ấy… là Đức Phật, là Thế Tôn.’ Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có đức tin làm cột trụ sẽ từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; tự mình giữ gìn sự trong sạch. Vị ấy được thành tựu diệu pháp thứ nhất này.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare parikkhā hoti gambhīrā ceva vitthatā ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako hirīmā hoti, hirīyati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, hirīyati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā. Hirīparikkho kho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā dutiyena saddhammena samannāgato hoti.
Just as a citadel has a moat that is deep and wide, in the same way a noble disciple has a conscience. They’re conscientious about bad conduct by way of body, speech, and mind, and conscientious about having any bad, unskillful qualities. A noble disciple with a conscience as their moat gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the second good quality they have.
Này các Tỳ khưu, ví như trong thành phố biên thùy của đức vua có một hào nước vừa sâu vừa rộng, để bảo vệ những người ở bên trong và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn, hổ thẹn với thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; hổ thẹn với việc rơi vào các pháp ác, bất thiện. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn làm hào nước sẽ từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; tự mình giữ gìn sự trong sạch. Vị ấy được thành tựu diệu pháp thứ hai này.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare anupariyāyapatho hoti ucco ceva vitthato ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ, kho, bhikkhave, ariyasāvako ottappī hoti, ottappati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, ottappati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā. Ottappapariyāyapatho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā tatiyena saddhammena samannāgato hoti.
Just as a citadel has a patrol path that is high and wide, in the same way a noble disciple is prudent. They’re prudent when it comes to bad conduct by way of body, speech, and mind, and prudent when it comes to acquiring any bad, unskillful qualities. A noble disciple with prudence as their patrol path gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the third good quality they have.
Này các Tỳ khưu, ví như trong thành phố biên thùy của đức vua có một con đường tuần tra vừa cao vừa rộng, để bảo vệ những người ở bên trong và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có lòng ghê sợ tội lỗi, ghê sợ thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; ghê sợ việc rơi vào các pháp ác, bất thiện. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có lòng ghê sợ tội lỗi làm con đường tuần tra sẽ từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; tự mình giữ gìn sự trong sạch. Vị ấy được thành tựu diệu pháp thứ ba này.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ āvudhaṁ sannicitaṁ hoti salākañceva jevanikañca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Sutāvudho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā catutthena saddhammena samannāgato hoti.
Just as a citadel has stores of many weapons, both projectile and hand-held, in the same way a noble disciple is very learned. They remember and keep what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. A noble disciple with learning as their weapon gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the fourth good quality they have.
Này các Tỳ khưu, ví như trong thành phố biên thùy của đức vua có nhiều vũ khí được tích trữ, cả loại vũ khí phóng đi và các loại khác, để bảo vệ những người ở bên trong và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người đa văn… được khéo thông suốt bởi chánh kiến. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có sự đa văn làm vũ khí sẽ từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; tự mình giữ gìn sự trong sạch. Vị ấy được thành tựu diệu pháp thứ tư này.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahubalakāyo paṭivasati, seyyathidaṁ—hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsakaputtā abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Vīriyabalakāyo, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā pañcamena saddhammena samannāgato hoti.
Just as many kinds of armed forces reside in a citadel … in the same way a noble disciple is energetic. They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. A noble disciple with energy as their armed forces gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the fifth good quality they have.
Này các Tỳ khưu, ví như trong thành phố biên thùy của đức vua có một đạo quân đông đảo trú đóng, ví như là: những người cưỡi voi, kỵ binh, những người đi xe ngựa, cung thủ, người cầm cờ hiệu, người sắp đặt trận địa, người cấp dưỡng, các vương tử cao quý, những người xung kích, những dũng sĩ, những anh hùng, những chiến binh mặc giáp da, và con cháu của những người hầu cận, để bảo vệ những người ở bên trong và để ngăn chặn những kẻ thù bên ngoài. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, nỗ lực để từ bỏ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; vị ấy có sức mạnh, kiên trì nỗ lực, không từ bỏ gánh nặng đối với các pháp thiện. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có tinh tấn làm đạo quân sẽ từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; tự mình giữ gìn sự trong sạch. Vị ấy được thành tựu diệu pháp thứ năm này.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare dovāriko hoti paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. Satidovāriko, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā chaṭṭhena saddhammena samannāgato hoti.
Just as a citadel has a gatekeeper who is astute, competent, and intelligent, who keeps strangers out and lets known people in, in the same way a noble disciple is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. A noble disciple with mindfulness as their gatekeeper gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the sixth good quality they have.
“Này các Tỳ khưu, ví như ở thành phố biên thùy của đức vua, có người gác cổng thông thái, khéo léo, và sáng suốt, ngăn chặn những người không quen biết, cho vào những người quen biết, để bảo vệ những người bên trong và chống lại những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, thành tựu niệm và sự thận trọng tối thượng, có thể nhớ lại và hồi tưởng lại những việc đã làm, những lời đã nói từ lâu. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có chánh niệm làm người gác cổng, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; giữ cho tự thân được trong sạch. Vị ấy thành tựu diệu pháp thứ sáu này.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare pākāro hoti ucco ceva vitthato ca vāsanalepanasampanno ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Paññāvāsanalepanasampanno, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti; sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti; suddhaṁ attānaṁ pariharati. Iminā sattamena saddhammena samannāgato hoti. Imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti.
Just as a citadel has a wall that’s high and wide, covered with plaster, to defend those within and repel those outside, in the same way a noble disciple is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. A noble disciple with wisdom as their wall gives up the unskillful and develops the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is the seventh good quality they have. These are the seven good qualities that they possess.
“Này các Tỳ khưu, ví như ở thành phố biên thùy của đức vua, có một bức tường thành vừa cao, vừa rộng, được trát vữa chắc chắn, để bảo vệ những người bên trong và chống lại những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ thấy được sự sinh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng xuyên thấu, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu lớp vữa trát là trí tuệ, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều đáng chê trách, tu tập điều không đáng chê trách; giữ cho tự thân được trong sạch. Vị ấy thành tựu diệu pháp thứ bảy này. Vị ấy thành tựu bảy diệu pháp này.
Katamesaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī? Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tiṇakaṭṭhodakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
And what are the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—that they get when they want, without trouble or difficulty? Just as a king’s frontier citadel has much hay, wood, and water stored up for the enjoyment, relief, and comfort of those within and to repel those outside, in the same way a noble disciple, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is for their own enjoyment, relief, and comfort, and for alighting upon extinguishment.
“Vị ấy là người đạt được bốn thiền thuộc tâm cao thượng, đem lại sự an lạc trong hiện tại, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc nào? Này các Tỳ khưu, ví như ở thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều cỏ, củi, và nước được dự trữ, để cho những người bên trong được vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái, và để chống lại những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử ly dục… (v.v.)… chứng và trú thiền thứ nhất, vì sự vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái của tự thân, và để đi vào Niết-bàn.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ sāliyavakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Just as a king’s frontier citadel has much rice and barley stored up, in the same way, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a noble disciple enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is for their own enjoyment, relief, and comfort, and for alighting upon extinguishment.
“Này các Tỳ khưu, ví như ở thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều lúa gạo và lúa mạch được dự trữ, để cho những người bên trong được vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái, và để chống lại những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử, do làm lắng dịu tầm và tứ… (v.v.)… chứng và trú thiền thứ hai, vì sự vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái của tự thân, và để đi vào Niết-bàn.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tilamuggamāsāparaṇṇaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Just as a king’s frontier citadel has much food such as sesame, green gram, and black gram stored up, in the same way with the fading away of rapture, a noble disciple enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This is for their own enjoyment, relief, and comfort, and for alighting upon extinguishment.
“Này các Tỳ khưu, ví như ở thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều mè, đậu xanh, đậu muồng, và các loại đậu khác được dự trữ, để cho những người bên trong được vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái, và để chống lại những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử, do ly hỷ… (v.v.)… chứng và trú thiền thứ ba, vì sự vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái của tự thân, và để đi vào Niết-bàn.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ bhesajjaṁ sannicitaṁ hoti, seyyathidaṁ—sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya. Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa. Imesaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Just as a king’s frontier citadel has much medicine—ghee, butter, oil, honey, molasses, and salt—stored up for the enjoyment, relief, and comfort of those within and to repel those outside, in the same way, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a noble disciple enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is for their own enjoyment, relief, and comfort, and for alighting upon extinguishment. These are the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—which they get when they want, without trouble or difficulty.
“Này các Tỳ khưu, ví như ở thành phố biên thùy của đức vua, có nhiều dược phẩm được dự trữ, như là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn, muối, để cho những người bên trong được vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái, và để chống lại những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử, do xả lạc và xả khổ, do ưu và hỷ đã diệt từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, vì sự vui thích, không sợ hãi, sống thoải mái của tự thân, và để đi vào Niết-bàn. Vị ấy là người đạt được bốn thiền này thuộc tâm cao thượng, đem lại sự an lạc trong hiện tại, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako akaraṇīyo mārassa akaraṇīyo pāpimato”ti.
Tatiyaṁ.
When a noble disciple has seven good qualities, and they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty, they are then called a noble disciple who cannot be overrun by Māra, who cannot be overrun by the Wicked One.”
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp này, và là người đạt được bốn thiền thuộc tâm cao thượng, đem lại sự an lạc trong hiện tại, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là người mà Ma vương không thể làm gì được, người mà Ác ma không thể làm gì được.” Hết kinh thứ ba.