- Aṅguttara Nikāya 7.69
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
AN 7.69 — Cây Kovilàra Pàricchattaka
Pāricchattakasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, khi nào cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa bắt đầu khô héo lá, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay lá của cây Kovilàra Pàricchattaka đã khô héo, không bao lâu lá sẽ rụng”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa rụng lá, thời khi ấy, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka đã rụng lá, không bao lâu, mầm non cánh hoa sẽ mọc ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa mọc ra mầm non cánh hoa, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka mọc ra mầm non cánh hoa, không bao lâu, đọt non cánh hoa sẽ mọc ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka mọc ra đọt non cánh hoa, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka mọc ra đọt non cánh hoa, không bao lâu các nụ hoa… sẽ được sanh ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa sanh ra nụ hoa, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka sanh ra nụ hoa, không bao lâu, các bông hoa sẽ được sanh ra”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra sanh ra các bông hoa, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ nghĩ rằng: “Nay cây Kovilàra Pàricchattaka sanh ra các bông hoa, không bao lâu, các bông hoa sẽ được nở toàn diện”. Này các Tỷ-kheo, trong khi cây Kovilàra có bông hoa được nở toàn diện, này các Tỷ-kheo, chư Thiên Tàvatimsa hoan hỷ, chơi đùa trong bốn tháng chư Thiên, dưới gốc cây Kovilàra Pàricchattaka, vui chơi thọ hưởng, tận hưởng năm dục công đức. Này các Tỷ-kheo, khi cây Kovilàra Pàricchattaka nở toàn diện các bông hoa, mùi hương bay tràn xung quanh đến năm mươi do tuần; thuận gió, mùi hương bay đến một trăm do tuần. Ðây là uy lực của cây Kovilàra Pàricchattaka.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Thánh đệ tử nghĩ đến xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử như lá héo của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi ấy Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa bị lá rụng. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Thánh đệ tử ly dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như mầm non cánh hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi Thánh đệ tử làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử như đọt non cánh hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi Thánh đệ tử ly hỷ, trú xả… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như nụ hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Thánh đệ tử đoạn lạc… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như các bông hoa được sanh của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị Thánh đệ tử do đoạn diệt các lậu hoặc… chứng ngộ, chứng đạt và an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, Thánh đệ tử như các bông hoa được nở toàn diện của cây Kovilàra Pàricchattaka của chư Thiên Tàvatimsa. Này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, chư Ðịa thần tuyên bố lớn tiếng: “Vị Tôn giả với tên họ thế này, đồng trú cùng một lòng tin với Tôn giả với họ tên thế này đã xuất gia từ làng như vậy, từ thị trấn như vậy, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc… chứng ngộ, chứng đạt và an trú…”. Sau khi nghe tiếng của chư Ðịa thần, chư Thiên Bốn Thiên vương thiên… chư Thiên Tàvatimsa… chư Thiên Yàma… chư Thiên Tusità… chư Thiên Hóa lạc thiên… chư Thiên Tha hóa Tự tại… chư Thiên Phạm chúng tuyên bố lớn tiếng: “Vị Tôn giả với tên họ thế này, đồng trú cùng một lòng tin với Tôn giả với họ tên như thế này đã xuất gia từ làng như vậy, từ thị trấn như vậy, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.
Như vậy trong sát-ma ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy truyền đến Phạm thiên giới. Ðây là uy lực của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.69
- 7. The Great Chapter
The Shady Orchid Tree
5. Kinh Cây San Hô
“Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro paṇḍupalāso hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā tasmiṁ samaye honti: ‘paṇḍupalāso dāni pāricchattako koviḷāro nacirasseva dāni pannapalāso bhavissatī’ti.
“Mendicants, when the leaves on the Shady Orchid Tree belonging to the gods of the thirty-three turn brown, the gods are elated. They think: ‘Now the leaves on the Shady Orchid Tree have turned brown! It won’t be long until they fall.’
69. “Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba có lá úa vàng, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ: ‘Nay cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã có lá úa vàng, chẳng bao lâu nữa nó sẽ rụng lá.’”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro pannapalāso hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā tasmiṁ samaye honti: ‘pannapalāso dāni pāricchattako koviḷāro nacirasseva dāni jālakajāto bhavissatī’ti.
When the leaves have fallen, the gods are elated. They think: ‘Now the leaves on the Shady Orchid Tree have fallen. It won’t be long until its foliage starts to regrow.’
“Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã rụng lá, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ: ‘Nay cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã rụng lá, chẳng bao lâu nữa nó sẽ đâm chồi.’”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro jālakajāto hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā tasmiṁ samaye honti: ‘jālakajāto dāni pāricchattako koviḷāro nacirasseva dāni khārakajāto bhavissatī’ti.
When the foliage starts to regrow, the gods are elated. They think: ‘Now the foliage of the Shady Orchid Tree has started to regrow. It won’t be long until it’s ready to grow flowers and leaves separately.’
“Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã đâm chồi, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ: ‘Nay cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã đâm chồi, chẳng bao lâu nữa nó sẽ ra nụ.’”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro khārakajāto hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā tasmiṁ samaye honti: ‘khārakajāto dāni pāricchattako koviḷāro nacirasseva dāni kuṭumalakajāto bhavissatī’ti.
When it’s ready to grow flowers and leaves separately, the gods are elated. They think: ‘Now the Shady Orchid Tree is ready to grow flowers and leaves separately. It won’t be long until buds start to form.’
“Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã ra nụ, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ: ‘Nay cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã ra nụ, chẳng bao lâu nữa nó sẽ thành búp.’”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro kuṭumalakajāto hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā tasmiṁ samaye honti: ‘kuṭumalakajāto dāni pāricchattako koviḷāro nacirasseva dāni korakajāto bhavissatī’ti.
When the buds start to form, the gods are elated. They think: ‘Now the buds of the Shady Orchid Tree have started to form. It won’t be long until the buds burst.’
“Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã thành búp, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ: ‘Nay cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã thành búp, chẳng bao lâu nữa nó sẽ nở bung.’”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro korakajāto hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā tasmiṁ samaye honti: ‘korakajāto dāni pāricchattako koviḷāro nacirasseva dāni sabbaphāliphullo bhavissatī’ti.
When the buds have burst, the gods are elated. They think: ‘Now the buds of the Shady Orchid Tree have burst. It won’t be long until it fully blossoms.’
“Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã nở bung, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ: ‘Nay cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã nở bung, chẳng bao lâu nữa nó sẽ trổ hoa khắp cành.’”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro sabbaphāliphullo hoti, attamanā, bhikkhave, devā tāvatiṁsā pāricchattakassa koviḷārassa mūle dibbe cattāro māse pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārenti. Sabbaphāliphullassa kho pana, bhikkhave, pāricchattakassa koviḷārassa samantā paññāsayojanāni ābhāya phuṭaṁ hoti, anuvātaṁ yojanasataṁ gandho gacchati,
When the Shady Orchid Tree of the gods of the thirty-three has fully blossomed, the gods are elated. For four heavenly months they amused themselves at the root of the tree, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. When the Shady Orchid Tree has fully blossomed, its radiance spreads for fifty leagues, while its fragrance wafts for a hundred leagues.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã trổ hoa khắp cành, này các Tỳ khưu, chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ, và dưới gốc cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra, họ vui hưởng trong bốn tháng trời, được cung phụng, đầy đủ năm dục công đức.
“Này các Tỳ khưu, khi cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra đã trổ hoa khắp cành, ánh sáng của nó tỏa khắp xung quanh năm mươi do tuần, và hương thơm của nó bay theo chiều gió một trăm do tuần. Đó là uy lực của cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yasmiṁ samaye ariyasāvako agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya ceteti, paṇḍupalāso, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
In the same way, when a noble disciple plans to go forth from the lay life to homelessness, they’re like the Shady Orchid Tree when its leaves turn brown.
“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử có ý định xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử cũng giống như cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba có lá úa vàng.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye ariyasāvako kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, pannapalāso, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
When a noble disciple shaves off their hair and beard, dresses in ocher robes, and goes forth from the lay life to homelessness, they’re like the Shady Orchid Tree when its leaves fall.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử cũng giống như cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã rụng lá.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye ariyasāvako vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, jālakajāto, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
When a noble disciple, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected, they’re like the Shady Orchid Tree when its foliage starts to regrow.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử ly dục... chứng và trú Thiền thứ nhất, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử cũng giống như cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã đâm chồi.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye ariyasāvako vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, khārakajāto, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
When, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a noble disciple enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected, they’re like the Shady Orchid Tree when it’s ready to grow flowers and leaves separately.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử, do làm cho lắng dịu tầm và tứ... chứng và trú Thiền thứ hai, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử cũng giống như cây san hô Pāricchattaka Koviḷāra của chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba đã ra nụ.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye ariyasāvako pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, kuṭumalakajāto, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
When, with the fading away of rapture, a noble disciple enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss’, they’re like the Shady Orchid Tree when its buds start to form.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử do ly hỷ... (v.v.)... chứng đạt và an trú thiền thứ ba, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử giống như cây san hô Pāricchattaka của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đang trổ nụ.”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye ariyasāvako sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, korakajāto, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
When, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a noble disciple enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness, they’re like the Shady Orchid Tree when its buds burst.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử do xả lạc, xả khổ... (v.v.)... chứng đạt và an trú thiền thứ tư, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử giống như cây san hô Pāricchattaka của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đang kết nụ.”
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye ariyasāvako āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati, sabbaphāliphullo, bhikkhave, ariyasāvako tasmiṁ samaye hoti devānaṁva tāvatiṁsānaṁ pāricchattako koviḷāro.
When a noble disciple realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements, they’re like the Shady Orchid Tree when it fully blossoms.
“Này các Tỳ khưu, vào lúc vị Thánh đệ tử do đoạn tận các lậu hoặc... (v.v.)... sau khi tự mình chứng ngộ, đã chứng đạt và an trú, này các Tỳ khưu, vào lúc ấy vị Thánh đệ tử giống như cây san hô Pāricchattaka của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba đang nở rộ khắp cành.”
Tasmiṁ, bhikkhave, samaye bhummā devā saddamanussāventi: ‘eso itthannāmo āyasmā itthannāmassa āyasmato saddhivihāriko amukamhā gāmā vā nigamā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Bhummānaṁ devānaṁ saddaṁ sutvā cātumahārājikā devā …pe… tāvatiṁsā devā … yāmā devā … tusitā devā … nimmānaratī devā … paranimmitavasavattī devā … brahmakāyikā devā saddamanussāventi: ‘eso itthannāmo āyasmā itthannāmassa āyasmato saddhivihāriko amukamhā gāmā vā nigamā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti. Itiha tena khaṇena tena muhuttena yāva brahmalokā saddo abbhuggacchati, ayamānubhāvo khīṇāsavassa bhikkhuno”ti.
Pañcamaṁ.
At that time the earth gods raise the cry: ‘This venerable named so-and-so, from such-and-such village or town, the protégé of the venerable named so-and-so, went forth from the lay life to homelessness. They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’
Hearing the cry of the earth gods, the gods of the four great kings … the gods of the thirty-three … the gods of Yama … the joyful gods … the gods who love to create … the gods who control what is created by others … the gods of the Divinity’s host raise the cry: ‘This venerable named so-and-so, from such-and-such village or town, the protégé of the venerable named so-and-so, went forth from the lay life to homelessness. They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’ And so at that moment, that hour, the cry soars up to the realm of divinity. Such is the majesty of a mendicant who has ended the defilements.”
“Này các Tỳ khưu, vào lúc ấy, các vị Địa thiên cất lên tiếng nói: ‘Vị hiền giả tên là... này, là vị đồng trú của hiền giả tên là..., từ làng mạc hay thị tứ..., từ bỏ gia đình, sống không gia đình, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.’ Nghe được tiếng nói của các vị Địa thiên, chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương... (v.v.)... chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba... chư thiên Dạ Ma... chư thiên Đâu Suất... chư thiên Hóa Lạc... chư thiên Tha Hóa Tự Tại... chư thiên thuộc Phạm chúng cũng cất lên tiếng nói: ‘Vị hiền giả tên là... này, là vị đồng trú của hiền giả tên là..., từ làng mạc hay thị tứ..., từ bỏ gia đình, sống không gia đình, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.’ Như vậy, trong khoảnh khắc ấy, trong sát-na ấy, tiếng nói ấy vang lên cho đến cõi Phạm thiên. Đây là oai lực của vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc.”