- Aṅguttara Nikāya 7.66
- 7. Mahāvagga
Sattasūriyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sattasūriyasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Núi chúa Sineru, này các Tỷ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các cành. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại, như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần… Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người. Ví như này các Tỷ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu hiện ra.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như, này các Tỷ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy hiện ra.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chứa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: “Quả đất này và núi chứa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa”, trừ những người đã được chứng kiến.
TTC 9Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo Sư Sunetta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta có hàng trăm người đệ tử. Ðao Sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới. Và tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Sunetta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới. Những ai không nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời dạy của Sunetta, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa Tự tại, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Ðâu-suất thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Thiên giới Ba mươi ba, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Sát-đế-lỵ, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Bà-la-môn, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình gia chủ.
TTC 10Rồi này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta suy nghĩ như sau: “Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử. Vậy ta hãy tu tập tối thượng từ bi”. Rồi này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Sunetta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy năm thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này. Trong kiếp thành của thế giới, này các Tỷ-kheo, vị ấy đi đến thế giới của Abhassara (Quang Âm thiên). Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy này các Tỷ-kheo, vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bậc biến tri, bậc tự tại. Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, vị ấy là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Sunetta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp. Thế nào là bốn?
TTC 11Này các Tỷ-kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể chấp Thánh trí tuệ, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát. Này các Tỷ-kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.
Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vô thượng giới và định,
Trí tuệ và giải thoát,
Gotama danh tiếng,
Giác ngộ những pháp này.
Ðức Phật với thắng trí,
Thuyết pháp cho Tỷ-kheo,
Bậc Ðạo sư đoạn khổ,
Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Bài kinh Bảy Mặt Trời
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
66. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Vesālī, tại khu rừng xoài của Ambapālī. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã gọi các vị Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu.' – 'Bạch Thế Tôn.' – các vị Tỳ khưu ấy đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Aniccā, bhikkhave, saṅkhārā; adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā; anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā. Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccituṁ.
“Mendicants, conditions are impermanent. Conditions are unstable. Conditions are unreliable. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
Này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường. Này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không bền vững. Này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không đáng tin cậy. Này các Tỳ khưu, chừng ấy là đủ để nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, đủ để ly tham, đủ để giải thoát.
Sineru, bhikkhave, pabbatarājā caturāsītiyojanasahassāni āyāmena, caturāsītiyojanasahassāni vitthārena, caturāsītiyojanasahassāni mahāsamudde ajjhogāḷho, caturāsītiyojanasahassāni mahāsamuddā accuggato. Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni devo na vassati. Deve kho pana, bhikkhave, avassante ye kecime bījagāmabhūtagāmā osadhitiṇavanappatayo te ussussanti visussanti, na bhavanti. Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā …pe… alaṁ vimuccituṁ.
Sineru, the king of mountains, is 84,000 leagues long and 84,000 leagues wide. It sinks 84,000 leagues below the ocean and rises 84,000 leagues above it. There comes a time when, after a very long period has passed—many years, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands of years—the heavens fail to rain. When this happens, the plants and seeds, the herbs, grass, and big trees wither away and dry up, and are no more. So impermanent are conditions, so unstable, so unreliable. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
Này các Tỳ khưu, vua của các ngọn núi là Sineru có chiều dài tám mươi bốn ngàn do-tuần, chiều rộng tám mươi bốn ngàn do-tuần, chìm sâu trong đại dương tám mươi bốn ngàn do-tuần, và nhô cao khỏi đại dương tám mươi bốn ngàn do-tuần. Này các Tỳ khưu, có thời điểm, đôi khi sau một thời gian dài, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm trôi qua, trời không mưa. Này các Tỳ khưu, khi trời không mưa, bất cứ loại nào thuộc về các loài thảo mộc và cây cối, các loại dược thảo, cỏ, và cây lớn đều bị khô héo, khô kiệt, và không còn tồn tại. Như vậy, này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường; như vậy, này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không bền vững ... cho đến ... đủ để giải thoát.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena dutiyo sūriyo pātubhavati. Dutiyassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yā kāci kunnadiyo kusobbhā tā ussussanti visussanti, na bhavanti. Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe… alaṁ vimuccituṁ.
There comes a time when, after a very long period has passed, a second sun appears. When this happens, the streams and pools wither away and dry up, and are no more. So impermanent are conditions …
Này các Tỳ khưu, có thời điểm, đôi khi sau một thời gian dài, mặt trời thứ hai xuất hiện. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ hai, bất cứ sông nhỏ và ao hồ nào cũng đều bị khô héo, khô kiệt, và không còn tồn tại. Như vậy, này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường ... cho đến ... đủ để giải thoát.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena tatiyo sūriyo pātubhavati. Tatiyassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tā ussussanti visussanti, na bhavanti. Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe… alaṁ vimuccituṁ.
There comes a time when, after a very long period has passed, a third sun appears. When this happens, the great rivers—the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—wither away and dry up, and are no more. So impermanent are conditions …
Này các Tỳ khưu, có thời điểm, đôi khi sau một thời gian dài, mặt trời thứ ba xuất hiện. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ ba, bất cứ sông lớn nào, ví như sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, cũng đều bị khô héo, khô kiệt, và không còn tồn tại. Như vậy, này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường ... cho đến ... đủ để giải thoát.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena catuttho sūriyo pātubhavati. Catutthassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ye te mahāsarā yato imā mahānadiyo pavattanti, seyyathidaṁ—anotattā, sīhapapātā, rathakārā, kaṇṇamuṇḍā, kuṇālā, chaddantā, mandākiniyā, tā ussussanti visussanti, na bhavanti. Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe… alaṁ vimuccituṁ.
There comes a time when, after a very long period has passed, a fourth sun appears. When this happens, the great lakes from which the rivers originate—the Anotattā, Sīhapapātā, Rathakārā, Kaṇṇamuṇḍā, Kuṇālā, Chaddantā, and Mandākinī—wither away and dry up, and are no more. So impermanent are conditions …
Này các Tỳ khưu, có thời điểm, đôi khi sau một thời gian dài, mặt trời thứ tư xuất hiện. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ tư, những hồ lớn là nguồn phát sinh của các con sông lớn, ví như hồ Anotattā, Sīhapapātā, Rathakārā, Kaṇṇamuṇḍā, Kuṇālā, Chaddantā, Mandākiniyā, cũng đều bị khô héo, khô kiệt, và không còn tồn tại. Như vậy, này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường ... cho đến ... đủ để giải thoát.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena pañcamo sūriyo pātubhavati. Pañcamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti, dviyojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti, tiyojanasatikānipi, catuyojanasatikānipi, pañcayojanasatikānipi, chayojanasatikānipi, sattayojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti; sattatālampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti, chatālampi, pañcatālampi, catutālampi, titālampi, dvitālampi, tālamattampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti; sattaporisampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti, chaporisampi, pañcaporisampi, catuporisampi, tiporisampi, dviporisampi, porisampi, aḍḍhaporisampi, kaṭimattampi, jaṇṇukāmattampi, gopphakamattampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti. Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante tattha tattha gopadesu udakāni ṭhitāni honti; evamevaṁ kho, bhikkhave, tattha tattha gopphakamattāni mahāsamudde udakāni ṭhitāni honti. Pañcamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā aṅgulipabbamattampi mahāsamudde udakaṁ na hoti. Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe… alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena chaṭṭho sūriyo pātubhavati. Chaṭṭhassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā dhūmāyanti sandhūmāyanti sampadhūmāyanti.
There comes a time when, after a very long period has passed, a fifth sun appears. When this happens, the water in the ocean sinks by a hundred leagues. It sinks by two, three, four, five, six, or even seven hundred leagues. The water that remains in the ocean is only seven palm trees deep. It’s six, five, four, three, two, or even one palm tree deep. The water that remains in the ocean is only seven fathoms deep. It’s six, five, four, three, two, one or even half a fathom deep. It’s waist high, knee high, or even ankle high. It’s like in autumn, when the heavens rain heavily and water remains here and there in the cows’ hoofprints. In the same way, water in the ocean remains here and there in puddles like cows’ hoofprints. When the fifth sun appears there’s not even enough water left in the great ocean for the tip of the toe. So impermanent are conditions …
There comes a time when, after a very long period has passed, a sixth sun appears. When this happens, this great earth and Sineru the king of mountains smoke and smolder and give off fumes.
“Này các Tỳ khưu, có thời điểm ấy, khi mà một lúc nào đó, một khi nào đó, sau một thời gian dài, mặt trời thứ năm xuất hiện. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ năm, nước trong đại dương rút xuống cả trăm do tuần, nước trong đại dương rút xuống cả hai trăm do tuần, cả ba trăm do tuần, cả bốn trăm do tuần, cả năm trăm do tuần, cả sáu trăm do tuần, cả bảy trăm do tuần. Nước trong đại dương chỉ còn lại bảy cây thốt nốt, rồi sáu cây thốt nốt, năm cây thốt nốt, bốn cây thốt nốt, ba cây thốt nốt, hai cây thốt nốt, một cây thốt nốt. Nước trong đại dương chỉ còn lại bảy tầm người, rồi sáu tầm người, năm tầm người, bốn tầm người, ba tầm người, hai tầm người, một tầm người, nửa tầm người, chỉ còn ngang thắt lưng, chỉ còn ngang đầu gối, chỉ còn ngang mắt cá chân. Này các Tỳ khưu, ví như vào mùa thu, khi trời mưa nặng hạt, nước đọng lại đây đó trong các dấu chân bò; cũng vậy, này các Tỳ khưu, nước trong đại dương chỉ còn lại đây đó ngang mắt cá chân. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ năm, nước trong đại dương không còn lại dù chỉ bằng một đốt ngón tay. Này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường như vậy... cho đến... thật đáng để giải thoát.”
“Này các Tỳ khưu, có thời điểm ấy, khi mà một lúc nào đó, một khi nào đó, sau một thời gian dài, mặt trời thứ sáu xuất hiện. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ sáu, đại địa này và Sineru, vua các loài núi, bốc khói, bốc khói mịt mù, bốc khói nghi ngút. Này các Tỳ khưu, ví như lò của người thợ gốm khi được đốt lên, lúc đầu bốc khói, rồi bốc khói mịt mù, rồi bốc khói nghi ngút; cũng vậy, này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ sáu, đại địa này và Sineru, vua các loài núi, bốc khói, bốc khói mịt mù, bốc khói nghi ngút. Này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường như vậy... cho đến... thật đáng để giải thoát.”
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena sattamo sūriyo pātubhavati. Sattamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā ādippanti pajjalanti ekajālā bhavanti. Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ acci vātena khittā yāva brahmalokāpi gacchati. Sinerussa, bhikkhave, pabbatarājassa jhāyamānassa dayhamānassa vinassamānassa mahatā tejokhandhena abhibhūtassa yojanasatikānipi kūṭāni palujjanti dviyojanasatikānipi, tiyojanasatikānipi, catuyojanasatikānipi, pañcayojanasatikānipi kūṭāni palujjanti. Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ neva chārikā paññāyati na masi. Seyyathāpi, bhikkhave, sappissa vā telassa vā jhāyamānassa dayhamānassa neva chārikā paññāyati na masi; evamevaṁ kho, bhikkhave, imissā ca mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ neva chārikā paññāyati na masi. Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṁ anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā. Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccituṁ.
There comes a time when, after a very long period has passed, a seventh sun appears. When this happens, this great earth and Sineru the king of mountains erupt in one burning mass of fire. And as they blaze and burn the flames are swept by the wind as far as the realm of divinity. Sineru the king of mountains blazes and burns, crumbling as it’s overcome by the great fire. And meanwhile, mountain peaks a hundred leagues high, or two, three, four, or five hundred leagues high disintegrate as they burn. And when the great earth and Sineru the king of mountains blaze and burn, no soot or ash is found. It’s like when ghee or oil blaze and burn, and neither ashes nor soot are found. In the same way, when the great earth and Sineru the king of mountains blaze and burn, no soot or ash is found. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
“Này các Tỳ khưu, có thời điểm ấy, khi mà một lúc nào đó, một khi nào đó, sau một thời gian dài, mặt trời thứ bảy xuất hiện. Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện của mặt trời thứ bảy, đại địa này và Sineru, vua các loài núi, bốc cháy, bừng cháy, trở thành một khối lửa duy nhất. Này các Tỳ khưu, khi đại địa này và Sineru, vua các loài núi, đang cháy, đang thiêu đốt, ngọn lửa bị gió tung lên bay đến tận cõi Phạm Thiên. Này các Tỳ khưu, khi Sineru, vua các loài núi, đang cháy, đang thiêu đốt, đang bị hủy diệt, bị khối lửa lớn bao trùm, các đỉnh núi cao cả trăm do tuần cũng sụp đổ, các đỉnh núi cao cả hai trăm do tuần, cả ba trăm do tuần, cả bốn trăm do tuần, cả năm trăm do tuần cũng sụp đổ. Này các Tỳ khưu, khi đại địa này và Sineru, vua các loài núi, đang cháy, đang thiêu đốt, không thấy có tro, không thấy có muội than. Này các Tỳ khưu, ví như khi bơ lỏng hay dầu đang cháy, đang thiêu đốt, không thấy có tro, không thấy có muội than; cũng vậy, này các Tỳ khưu, khi đại địa này và Sineru, vua các loài núi, đang cháy, đang thiêu đốt, không thấy có tro, không thấy có muội than. Này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là vô thường như vậy; này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không bền vững như vậy; này các Tỳ khưu, các pháp hữu vi là không đáng tin cậy như vậy. Này các Tỳ khưu, chừng ấy là đủ để nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, đủ để ly tham, đủ để giải thoát.”
Tatra, bhikkhave, ko mantā ko saddhātā: ‘ayañca pathavī sineru ca pabbatarājā dayhissanti vinassissanti, na bhavissantī’ti aññatra diṭṭhapadehi?
Mendicants, who would ever think or believe that this earth and Sineru, king of mountains, will burn and crumble and be no more, except one who has seen the truth?
“Này các Tỳ khưu, trong sự việc ấy, ngoài những vị đã thấy được dấu chân (thánh đạo), ai có thể nghĩ, ai có thể tin rằng: ‘Đại địa này và Sineru, vua các loài núi, sẽ bị cháy, sẽ bị hủy diệt, sẽ không còn tồn tại’?”
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo. Sunettassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ. Sunetto, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi. Ye kho pana, bhikkhave, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa sabbena sabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ brahmalokaṁ upapajjiṁsu. Ye na sabbena sabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā appekacce paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce brāhmaṇamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu.
Once upon a time, there was a teacher named Sunetta. He was a religious founder and was free of desire for sensual pleasures. He had many hundreds of disciples. He taught them a Dhamma for rebirth in the company of Divinity. Those who totally understood Sunetta’s teachings were—when their body broke up, after death—reborn in a good place, the company of Divinity. Of those who didn’t totally understand Sunetta’s teachings, some—when their body broke up, after death—were reborn in the company of the gods who control what is created by others. Some were reborn in the company of the gods who love to create, some with the joyful gods, some with the gods of Yama, some with the gods of the thirty-three, and some with the gods of the four great kings. Some were reborn in the company of well-to-do aristocrats or brahmins or householders.
“Này các Tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Sunetta, là người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục. Này các Tỳ khưu, vị đạo sư Sunetta ấy có nhiều trăm đệ tử. Này các Tỳ khưu, đạo sư Sunetta đã thuyết pháp cho các đệ tử để được đồng hành với Phạm Thiên. Này các Tỳ khưu, những vị nào, khi đạo sư Sunetta thuyết pháp để được đồng hành với Phạm Thiên, đã hiểu biết toàn bộ giáo pháp, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi thiện thú, cõi Phạm Thiên. Những vị nào đã không hiểu biết toàn bộ giáo pháp, sau khi thân hoại mạng chung, một số sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại, một số sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Hóa Lạc, một số sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Đâu Suất, một số sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Dạ Ma, một số sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, một số sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, một số sanh làm bạn đồng hành với các gia tộc Sát-đế-lỵ đại phú, một số sanh làm bạn đồng hành với các gia tộc Bà-la-môn đại phú, một số sanh làm bạn đồng hành với các gia tộc gia chủ đại phú.”
Atha kho, bhikkhave, sunettassa satthuno etadahosi: ‘na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ sāvakānaṁ samasamagatiyo assaṁ abhisamparāyaṁ, yannūnāhaṁ uttari mettaṁ bhāveyyan’ti.
Then the teacher Sunetta thought: ‘It’s not proper for me to be reborn in the next life in exactly the same place as my disciples. Why don’t I further develop love?’
Này các Tỳ khưu, bấy giờ đạo sư Sunetta khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Thật không xứng đáng cho ta nếu trong đời sau ta lại có cùng một cảnh giới tương đương với các đệ tử. Vậy, ta nên tu tập tâm từ cao hơn nữa.’
Atha kho, bhikkhave, sunetto satthā satta vassāni mettaṁ cittaṁ bhāvesi. Satta vassāni mettaṁ cittaṁ bhāvetvā satta saṁvaṭṭavivaṭṭakappe nayimaṁ lokaṁ punarāgamāsi. Saṁvaṭṭamāne sudaṁ, bhikkhave, loke ābhassarūpago hoti. Vivaṭṭamāne loke suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjati. Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā hoti mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī. Chattiṁsakkhattuṁ kho pana, bhikkhave, sakko ahosi devānamindo. Anekasatakkhattuṁ rājā ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Parosahassaṁ kho panassa puttā ahesuṁ sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi. So hi nāma, bhikkhave, sunetto satthā evaṁ dīghāyuko samāno evaṁ ciraṭṭhitiko aparimutto ahosi: jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘aparimutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Then Sunetta developed love for seven years. Having done so he did not return to this world for seven eons of cosmic expansion and contraction. As the cosmos contracted he went to the realm of streaming radiance. As it expanded he was reborn in an empty mansion of divinity. There he was the Divinity, the Great Divinity, the vanquisher, the unvanquished, the universal seer, the wielder of power. He was Sakka, lord of gods, thirty-six times. Many hundreds of times he was a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extended to all four sides, he achieved stability in the country, and he possessed the seven treasures. He had over a thousand sons who were valiant and heroic, crushing the armies of his enemies. After conquering this land girt by sea, he reigned by principle, without rod or sword. Yet even though Sunetta lived so long, he was not free from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. He was not free from suffering, I say.
Này các Tỳ khưu, bấy giờ đạo sư Sunetta đã tu tập tâm từ trong bảy năm. Sau khi tu tập tâm từ trong bảy năm, vị ấy đã không trở lại thế giới này trong suốt bảy kiếp thành-hoại. Này các Tỳ khưu, khi thế giới hoại, vị ấy sanh vào cõi Quang Âm. Khi thế giới thành, vị ấy sanh vào cung Phạm thiên trống rỗng. Này các Tỳ khưu, tại nơi ấy, vị ấy là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng chinh phục, không bị chinh phục, người thấy rõ mọi điều, đấng tự tại. Này các Tỳ khưu, vị ấy đã ba mươi sáu lần làm vua trời Đế Thích. Vị ấy đã vô số trăm lần làm vua Chuyển luân vương, một vị vua đúng pháp, một pháp vương, người chinh phục bốn phương, người đã đạt được sự ổn định cho quốc độ, người sở hữu bảy báu vật. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, dũng mãnh, có thân hình anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của đối phương. Vị ấy sau khi chinh phục trái đất này cho đến tận bờ đại dương bằng chánh pháp, không dùng roi, không dùng gươm, đã trị vì trên đó. Này các Tỳ khưu, đạo sư Sunetta ấy, dù sống lâu như vậy, dù tồn tại lâu dài như vậy, vẫn chưa giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ đau.
Taṁ kissa hetu? Catunnaṁ dhammānaṁ ananubodhā appaṭivedhā. Katamesaṁ catunnaṁ? Ariyassa, bhikkhave, sīlassa ananubodhā appaṭivedhā, ariyassa samādhissa ananubodhā appaṭivedhā, ariyāya paññāya ananubodhā appaṭivedhā, ariyāya vimuttiyā ananubodhā appaṭivedhā. Tayidaṁ, bhikkhave, ariyaṁ sīlaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ariyo samādhi anubodho paṭividdho, ariyā paññā anubodhā paṭividdhā, ariyā vimutti anubodhā paṭividdhā, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
Why is that? Because of not understanding and not penetrating four things. What four? Noble ethics, immersion, wisdom, and freedom. These noble ethics, immersion, wisdom, and freedom have been understood and penetrated. Craving for continued existence has been cut off; the leash to existence is ended; now there’ll be no more future lives.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Vì nguyên nhân gì? Vì không giác ngộ, không thông suốt bốn pháp. Bốn pháp nào? Này các Tỳ khưu, do không giác ngộ, không thông suốt Thánh giới, do không giác ngộ, không thông suốt Thánh định, do không giác ngộ, không thông suốt Thánh tuệ, do không giác ngộ, không thông suốt Thánh giải thoát. Này các Tỳ khưu, Thánh giới này đã được Như Lai giác ngộ, thông suốt; Thánh định đã được giác ngộ, thông suốt; Thánh tuệ đã được giác ngộ, thông suốt; Thánh giải thoát đã được giác ngộ, thông suốt. Ái hữu đã được đoạn trừ, dây dẫn đến tái sanh đã bị hủy diệt, nay không còn tái sanh nữa. Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Sīlaṁ samādhi paññā ca, vimutti ca anuttarā; Anubuddhā ime dhammā, gotamena yasassinā.
“Ethics, immersion, and wisdom, and the supreme freedom: these things have been understood by Gotama the renowned.
Giới, Định, cùng Tuệ, và Giải thoát vô song; Những pháp này đã được, bậc Gotama lừng danh giác ngộ.
Iti buddho abhiññāya, dhammamakkhāsi bhikkhunaṁ; Dukkhassantakaro satthā, cakkhumā parinibbuto”ti.
Dutiyaṁ.
And so the Buddha, having insight, explained this teaching to the mendicants. The Teacher has made an end of suffering; seeing clearly, he is quenched.”
Như vậy, bậc Giác Ngộ, với thắng trí đã biết, đã giảng dạy Chánh pháp cho các Tỳ khưu; Bậc Đạo Sư, người chấm dứt khổ đau, bậc có mắt, đã nhập Vô dư Niết-bàn. (Hết kinh thứ hai).