- Aṅguttara Nikāya 7.42
- 4. Devatāvagga
Bản dịch
AN 7.42 — Sự Thù Diệu (1)
Paṭhamaniddasasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anathapindika. Bấy giờ Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: 'Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán'”. Rồi Tôn giả Sàriputta không tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”.
TTC 3Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi khất thực ở Sàvatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi bạch Thế Tôn, con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi, con ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp và câu chuyện sau đây được khởi lên: “Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: 'Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán'”. Rồi bạch Thế Tôn, con không tùy hỷ, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, con từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”. Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm chăng?
—Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta, sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú, và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?
TTC 4Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục; và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục, tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.
Này Sàriputta, bảy thù diệu sự này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.
TTC 5Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!” Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.42
- 4. Deities
Graduation (1st)
11. Kinh Chỉ Dạy Thứ Nhất
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Tena kho pana samayena tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: “yo hi koci, āvuso, dvādasavassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?”
Then he went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side.
Now at that time while those wanderers of other religions were sitting together this discussion came up among them, “Reverends, anyone who lives the full and pure spiritual life for twelve years is qualified to be called a ‘graduate mendicant’.”
42. Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta khởi lên suy nghĩ này: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo.” Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, ngài đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi nói xong những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Vào lúc ấy, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi họp lại với nhau, câu chuyện này đã khởi lên giữa họ: “Này chư hiền, bất cứ ai thực hành phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm, vị ấy xứng đáng được gọi là ‘vị Tỳ khưu vô tỳ vết’.”
Atha kho āyasmā sāriputto tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
Sāriputta neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. He rose from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
Then Sāriputta wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding:
Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta không tán đồng cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Không tán đồng, không phản đối, ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi đức Thế Tôn.” Rồi Tôn giả Sāriputta, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, dùng bữa xong, trở về từ chuyến khất thực, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với đức Thế Tôn như sau:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan’ti. Atha khvāhaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Tena kho pana, bhante, samayena tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: ‘yo hi koci, āvuso, dvādasavassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, niddaso bhikkhūti alaṁvacanāyā’ti. Atha khvāhaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ: ‘bhagavato santike etassa atthaṁ ājānissāmī’ti. Sakkā nu kho, bhante, imasmiṁ dhammavinaye kevalaṁ vassagaṇanamattena niddaso bhikkhu paññāpetun”ti?
“Sir, in this teaching and training can we describe a mendicant as a ‘graduate’ solely because they have completed a certain number of years?”
“Bạch đức Thế Tôn, hôm nay, vào buổi sáng, con đắp y, mang bát và y, đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Bạch đức Thế Tôn, bấy giờ con khởi lên suy nghĩ này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo.’ Bạch đức Thế Tôn, rồi con đã đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, con đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi nói xong những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, con ngồi xuống một bên. Bạch đức Thế Tôn, vào lúc ấy, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi họp lại với nhau, câu chuyện này đã khởi lên giữa họ: ‘Này chư hiền, bất cứ ai thực hành phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm, vị ấy xứng đáng được gọi là “vị Tỳ khưu vô tỳ vết”.’ Bạch đức Thế Tôn, bấy giờ con đã không tán đồng cũng không phản đối lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy. Không tán đồng, không phản đối, con từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: ‘Ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của lời nói này nơi đức Thế Tôn.’ Bạch đức Thế Tôn, trong Giáo pháp và Giới luật này, có thể nào chỉ đơn thuần dựa vào việc đếm số năm mà tuyên bố một vị Tỳ khưu là vô tỳ vết chăng?”
“Na kho, sāriputta, sakkā imasmiṁ dhammavinaye kevalaṁ vassagaṇanamattena niddaso bhikkhu paññāpetuṁ. Satta kho imāni, sāriputta, niddasavatthūni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni.
“No, Sāriputta, we cannot. I make known these seven qualifications for graduation after realizing them with my own insight.
“Này Sāriputta, trong Giáo pháp và Giới luật này, không thể chỉ đơn thuần dựa vào việc đếm số năm mà tuyên bố một vị Tỳ khưu là vô tỳ vết. Này Sāriputta, có bảy nền tảng của sự vô tỳ vết này đã được Như Lai tự mình chứng ngộ với thắng trí, tự mình giác ngộ và tuyên thuyết.
Katamāni satta? Idha, sāriputta, bhikkhu sikkhāsamādāne tibbacchando hoti āyatiñca sikkhāsamādāne avigatapemo, dhammanisantiyā tibbacchando hoti āyatiñca dhammanisantiyā avigatapemo, icchāvinaye tibbacchando hoti āyatiñca icchāvinaye avigatapemo, paṭisallāne tibbacchando hoti āyatiñca paṭisallāne avigatapemo, vīriyārambhe tibbacchando hoti āyatiñca vīriyārambhe avigatapemo, satinepakke tibbacchando hoti āyatiñca satinepakke avigatapemo, diṭṭhipaṭivedhe tibbacchando hoti āyatiñca diṭṭhipaṭivedhe avigatapemo. Imāni kho, sāriputta, satta niddasavatthūni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Imehi kho, sāriputta, sattahi niddasavatthūhi samannāgato bhikkhu dvādasa cepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāya; catubbīsati cepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāya; chattiṁsati cepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāya, aṭṭhacattārīsañcepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
Ekādasamaṁ.
What seven? It’s when a mendicant has a keen enthusiasm to undertake the training … to examine the teachings … to get rid of desires … for retreat … to rouse up energy … for mindfulness and alertness … to penetrate theoretically. And they don’t lose these desires in the future. These are the seven qualifications for graduation that I make known after realizing them with my own insight. A mendicant who has these seven qualifications for graduation is qualified to be called a ‘graduate mendicant’. This is so whether they have lived the full and pure spiritual life for twelve years, twenty-four years, thirty-six years, or forty-eight years.”
“Bảy điều ấy là gì? Này Sāriputta, ở đây, vị Tỳ khưu có ước muốn mãnh liệt trong việc thực hành giới học và có tình yêu thương không suy giảm đối với việc thực hành giới học trong tương lai; có ước muốn mãnh liệt trong việc thẩm sát các pháp và có tình yêu thương không suy giảm đối với việc thẩm sát các pháp trong tương lai; có ước muốn mãnh liệt trong việc điều phục dục vọng và có tình yêu thương không suy giảm đối với việc điều phục dục vọng trong tương lai; có ước muốn mãnh liệt trong việc độc cư và có tình yêu thương không suy giảm đối với việc độc cư trong tương lai; có ước muốn mãnh liệt trong việc tinh tấn nỗ lực và có tình yêu thương không suy giảm đối với việc tinh tấn nỗ lực trong tương lai; có ước muốn mãnh liệt trong chánh niệm và tỉnh giác và có tình yêu thương không suy giảm đối với chánh niệm và tỉnh giác trong tương lai; có ước muốn mãnh liệt trong việc thông suốt các quan kiến và có tình yêu thương không suy giảm đối với việc thông suốt các quan kiến trong tương lai. Này Sāriputta, đây là bảy nền tảng của sự vô tỳ vết đã được Như Lai tự mình chứng ngộ với thắng trí, tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Này Sāriputta, một vị Tỳ khưu hội đủ bảy nền tảng của sự vô tỳ vết này, dù vị ấy thực hành phạm hạnh trọn vẹn và thanh tịnh trong mười hai năm, cũng xứng đáng được gọi là ‘vị Tỳ khưu vô tỳ vết’; dù thực hành trong hai mươi bốn năm, cũng xứng đáng được gọi là ‘vị Tỳ khưu vô tỳ vết’; dù thực hành trong ba mươi sáu năm, cũng xứng đáng được gọi là ‘vị Tỳ khưu vô tỳ vết’; dù thực hành trong bốn mươi tám năm, cũng xứng đáng được gọi là ‘vị Tỳ khưu vô tỳ vết’.” Kinh thứ mười một.