- Aṅguttara Nikāya 7.35
- 4. Devatāvagga
Bản dịch
AN 7.35 — Dễ Nói (2)
Dutiyasovacassatāsutta
TTC 1—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy thưa với Ta: “Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc. Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
TTC 2Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 3—Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau: Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính chúng Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu, tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này các Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như vậy.
TTC 4—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư… (như trên, với những thay đổi cần thiết)… một cách chơn thực, chơn chánh, đúng thời. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.35
- 4. Deities
Easy to Admonish (2nd)
4. Kinh Sovacassatā (Dễ Dạy) thứ nhì
“Imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā …pe… ‘sattime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti. Katame satta? Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, samādhigāravatā, sovacassatā, kalyāṇamittatā. Ime kho, bhante, satta dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.
Idamavoca, bhikkhave, sā devatā. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
“Mendicants, tonight a deity … said to me: ‘Sir, these seven things don’t lead to the decline of a mendicant. What seven? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for immersion; being easy to admonish, and good friendship. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant.’
That is what that deity said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.”
35. “Này các tỳ khưu, vào đêm nay, khi đêm đã gần mãn, có một vị thiên tử với dung sắc thù thắng ... ‘Bạch ngài, có bảy pháp này đưa đến sự không thối giảm cho vị tỳ khưu. Bảy điều là gì? Sự kính trọng Bậc Đạo Sư, sự kính trọng Pháp, sự kính trọng Tăng, sự kính trọng học giới, sự kính trọng định, sự dễ dạy, sự có bạn lành. Bạch ngài, bảy pháp này đưa đến sự không thối giảm cho vị tỳ khưu.’ Này các tỳ khưu, vị thiên tử ấy đã nói điều này. Sau khi nói điều này, vị ấy đã đảnh lễ ta, đi nhiễu quanh bên phải rồi biến mất tại chỗ ấy.”
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Idha, bhante, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī. Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti. Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Attanā ca dhammagāravo hoti …pe…
saṅghagāravo hoti …
sikkhāgāravo hoti …
samādhigāravo hoti …
suvaco hoti …
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī. Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti. Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha:
“Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.
It’s when a mendicant personally respects the Teacher and praises such respect. And they encourage other mendicants who lack such respect to respect the Teacher. And they praise other mendicants who respect the Teacher at the right time, truthfully and correctly.
They personally respect the teaching …
They personally respect the Saṅgha …
They personally respect the training …
They personally respect immersion …
They are personally easy to admonish …
They personally have good friends, and praise such friendship. And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship. And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.
That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.”
Khi được nói như vậy, trưởng lão Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, đối với lời được đức Thế Tôn nói một cách tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Bạch ngài, ở đây, vị tỳ khưu tự mình kính trọng Bậc Đạo Sư, và là người tán dương về sự kính trọng Bậc Đạo Sư. Vị ấy cũng khuyến khích các vị tỳ khưu khác là những người không kính trọng Bậc Đạo Sư về sự kính trọng Bậc Đạo Sư. Và vị ấy nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thực tại, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác là những người kính trọng Bậc Đạo Sư. Tự mình kính trọng Pháp ... kính trọng Tăng ... kính trọng học giới ... kính trọng định ... là người dễ dạy ... là người có bạn lành, và là người tán dương về sự có bạn lành. Vị ấy cũng khuyến khích các vị tỳ khưu khác là những người không có bạn lành về sự có bạn lành. Và vị ấy nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thực tại, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác là những người có bạn lành. Bạch ngài, đối với lời được đức Thế Tôn nói một cách tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.”
“Sādhu sādhu, sāriputta. Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.
Idha, sāriputta, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī. Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti. Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Attanā ca dhammagāravo hoti …pe…
saṅghagāravo hoti …
sikkhāgāravo hoti …
samādhigāravo hoti …
suvaco hoti …
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī. Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti. Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Catutthaṁ.
“Good, good, Sāriputta! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.
It’s when a mendicant personally respects the Teacher … And they encourage other mendicants who lack such respect to respect the Teacher. And they praise other mendicants who respect the Teacher at the right time, truthfully and correctly.
They personally respect the teaching …
They personally respect the Saṅgha …
They personally respect the training …
They personally respect immersion …
They are personally easy to admonish …
They personally have good friends, and praise such friendship. And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship. And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.
This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.”
“Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, thật là tốt khi ngươi hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy đối với lời được ta nói một cách tóm tắt. Này Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu tự mình kính trọng Bậc Đạo Sư, và là người tán dương về sự kính trọng Bậc Đạo Sư. Vị ấy cũng khuyến khích các vị tỳ khưu khác là những người không kính trọng Bậc Đạo Sư về sự kính trọng Bậc Đạo Sư. Và vị ấy nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thực tại, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác là những người kính trọng Bậc Đạo Sư. Tự mình kính trọng Pháp ... kính trọng Tăng ... kính trọng học giới ... kính trọng định ... là người dễ dạy ... là người có bạn lành, và là người tán dương về sự có bạn lành. Vị ấy cũng khuyến khích các vị tỳ khưu khác là những người không có bạn lành về sự có bạn lành. Và vị ấy nói lên lời tán dương đúng sự thật, đúng thực tại, đúng thời đối với các vị tỳ khưu khác là những người có bạn lành. Này Sāriputta, ý nghĩa của lời được ta nói một cách tóm tắt này nên được hiểu một cách rộng rãi như vậy.”