- Aṅguttara Nikāya 6.63
- 6. Mahāvagga
Bản dịch
AN 6.63 — Một Pháp Môn Quyết Trạch
Nibbedhikasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp môn thể nhập, pháp môn pháp. Hãy nghe và tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn thể nhập (quyết trạch), pháp môn pháp?
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục, cần phải biết duyên khởi các dục, cần phải biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục, cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết cảm thọ, cần phải biết các cảm thọ duyên khởi, cần phải biết các cảm thọ sai biệt, cần phải biết các cảm thọ dị thục, cần phải biết các cảm thọ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng, cần phải biết các tưởng duyên khởi, cần phải biết các tưởng sai biệt, cần phải biết các tưởng dị thục, cần phải biết các tưởng đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc, cần phải biết các lậu hoặc duyên khởi, cần phải biết các lậu hoặc sai biệt, cần phải biết các lậu hoặc dị thục, cần phải biết các lậu hoặc đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ duyên khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục, cần phải biết các dục duyên khởi, cần phải biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục, cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt, đã được nói như vậy. Và do duyên gì được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này: Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ý, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, dầu chúng không phải dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh.
Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ ở đời,
Chúng không phải là dục,
Các tư duy tham ái
Là dục của con người,
Các hoa mỹ an trú
Như vậy ở trên đời,
Ở đây những bậc Trí,
Nhiếp phục được lòng dục.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục duyên khởi? Xúc, này các Tỷ-kheo, là các dục duyên khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục sai biệt? Này các Tỷ-kheo, dục trên các sắc là khác, dục trên các tiếng là khác, dục trên các hương là khác, dục trên các vị là khác, dục trên các xúc là khác. Này các Tỷ-kheo, đây là các dục sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục dị thục? Này các Tỷ-kheo, khi muốn một cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức, Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các dục dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo là dục đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các dục đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các dục như vậy, rõ biết các dục sanh khởi như vậy, rõ biết các dục sai biệt như vậy, rõ biết các dục dị thục như vậy, rõ biết các dục đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các dục đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục… cần phải biết con đường đưa đến dục đoạn diệt, Ðoạn diệt đã được nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các cảm thọ… cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.
TTC 6Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sanh khởi? Xúc, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ sanh khởi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có các lạc thọ liên hệ đến vật chất, có các lạc thọ không liên hệ đến vật chất; có các khổ thọ liên hệ đến vật chất, có các khổ thọ không liên hệ đến vật chất; có các cảm thọ không khổ không lạc liên hệ đến vật chất, có các cảm thọ không khổ không lạc không liên hệ đến vật chất. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ dị thục? Này các Tỷ-kheo, khi nào cảm thọ cái gì, sanh khởi một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các cảm thọ dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các cảm thọ đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là các cảm thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các cảm thọ đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến… chánh định. Và khi nào, này các Tỷ kheo, vị Thánh đệ tử đã biết các cảm thọ như vậy, rõ biết các cảm thọ sanh khởi như vậy, rõ biết các cảm thọ sai biệt như vậy, rõ biết các cảm thọ dị thục như vậy, rõ biết các cảm thọ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các cảm thọ đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các cảm thọ… cần phải biết con đường đưa đến các cảm thọ đoạn diệt, đã nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng…cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
TTC 8Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng sanh khởi? Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng sai biệt? Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các sắc là khác, các tưởng trong các thanh là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục? Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: “Như vậy tôi tưởng”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là tưởng đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến các tưởng đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến… chánh định. Khi nào này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các tưởng như vậy, rõ biết các tưởng sanh khởi như vậy, rõ biết các tưởng sai biệt như vậy, rõ biết các tưởng dị thục như vậy, rõ biết các tưởng đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các tưởng đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng… cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã được nói như vậy.
TTC 9Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc… cần phải biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên nào đã được nói như vậy? Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc sanh khởi? Vô minh, này các Tỷ-kheo, là các lậu hoặc sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có các lậu hoặc đưa đến địa ngục, có các lậu hoặc đưa đến bàng sanh, có các lậu hoặc đưa đến ngạ quỷ, có các lậu hoặc đưa đến thế giới loài người, có các lậu hoặc đưa đến thế giới chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc sai biệt.
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là các lậu hoặc dị thục ? Này các Tỷ kheo, khi nào vì vô minh cái gì sanh khởi, một tự ngã khởi lên từ vật ấy, từ vật ấy, để dự phần phước đức, hay để dự phần không phước đức. Này các Tỷ kheo, đây gọi là các lậu hoặc dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc đoạn diệt? Vô minh đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là các lậu đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến… chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các lậu hoặc là như vậy, rõ biết các lậu hoặc sanh khởi như vậy, rõ biết các lậu hoặc sai biệt như vậy, rõ biết các lậu hoặc dị thục như vậy, rõ biết các lậu hoặc đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các lậu hoặc đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc… cần phải biết con đường đưa đến các lậu hoặc đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã được nói như vậy.
TTC 11Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp… cần phải biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt được nói như vậy. Do duyên gì được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý.
TTC 12Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỷ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi.
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các nghiệp sai biệt? Này các Tỷ-kheo, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các nghiệp sai biệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại, hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Này các Tỷ-kheo, đây là các nghiệp dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là nghiệp đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến… chánh định. Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các nghiệp như vậy, rõ biết các nghiệp sanh khởi như vậy, rõ biết các nghiệp sai biệt như vậy, rõ biết các nghiệp dị thục như vậy, rõ biết các nghiệp đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các nghiệp đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp… cần phải rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này đã được nói như vậy.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
TTC 14Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi? Ái, này các Tỷ-kheo, là khổ sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sai biệt? Này các Tỷ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ dị thục? Này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh; do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú đề đoạn diệt khổ này.
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là khổ dị thục.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?
Ái đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là khổ đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến khổ đoạn diệt. Ðó là chánh kiến… chánh định. Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử rõ biết khổ như vậy, rõ biết khổ sanh khởi như vậy, rõ biết khổ sai biệt như vậy, rõ biết khổ dị thục như vậy, rõ biết khổ đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là khổ đoạn diệt.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.
Này các Tỷ-kheo, đây là thể nhập pháp môn, pháp pháp môn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.63
- 6. The Great Chapter
Penetrative
9. Kinh Thấu Triệt
“Nibbedhikapariyāyaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, I will teach you a penetrative exposition of the teaching. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
63. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi pháp môn thấu triệt, một bài pháp. Các ngươi hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói”. “Bạch Thế Tôn, vâng ạ”, các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này –
“Katamo ca so, bhikkhave, nibbedhikapariyāyo dhammapariyāyo? Kāmā, bhikkhave, veditabbā, kāmānaṁ nidānasambhavo veditabbo, kāmānaṁ vemattatā veditabbā, kāmānaṁ vipāko veditabbo, kāmanirodho veditabbo, kāmanirodhagāminī paṭipadā veditabbā.
“Mendicants, what is the penetrative exposition of the teaching? Sensual pleasures should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.
“Và này các Tỳ khưu, pháp môn thấu triệt, bài pháp ấy là gì? Này các Tỳ khưu, các dục cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của các dục cần phải được biết rõ, sự khác biệt của các dục cần phải được biết rõ, quả của các dục cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của các dục cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của các dục cần phải được biết rõ.”
Vedanā, bhikkhave, veditabbā, vedanānaṁ nidānasambhavo veditabbo, vedanānaṁ vemattatā veditabbā, vedanānaṁ vipāko veditabbo, vedanānirodho veditabbo, vedanānirodhagāminī paṭipadā veditabbā.
Feelings should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.
“Này các Tỳ khưu, các thọ cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của các thọ cần phải được biết rõ, sự khác biệt của các thọ cần phải được biết rõ, quả của các thọ cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của các thọ cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của các thọ cần phải được biết rõ.”
Saññā, bhikkhave, veditabbā, saññānaṁ nidānasambhavo veditabbo, saññānaṁ vemattatā veditabbā, saññānaṁ vipāko veditabbo, saññānirodho veditabbo, saññānirodhagāminī paṭipadā veditabbā.
Perceptions should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.
“Này các Tỳ khưu, các tưởng cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của các tưởng cần phải được biết rõ, sự khác biệt của các tưởng cần phải được biết rõ, quả của các tưởng cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của các tưởng cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của các tưởng cần phải được biết rõ.”
Āsavā, bhikkhave, veditabbā, āsavānaṁ nidānasambhavo veditabbo, āsavānaṁ vemattatā veditabbā, āsavānaṁ vipāko veditabbo, āsavanirodho veditabbo, āsavanirodhagāminī paṭipadā veditabbā.
Defilements should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.
“Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của các lậu hoặc cần phải được biết rõ, sự khác biệt của các lậu hoặc cần phải được biết rõ, quả của các lậu hoặc cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của các lậu hoặc cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc cần phải được biết rõ.”
Kammaṁ, bhikkhave, veditabbaṁ, kammānaṁ nidānasambhavo veditabbo, kammānaṁ vemattatā veditabbā, kammānaṁ vipāko veditabbo, kammanirodho veditabbo, kammanirodhagāminī paṭipadā veditabbā.
Deeds should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.
“Này các Tỳ khưu, nghiệp cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của nghiệp cần phải được biết rõ, sự khác biệt của nghiệp cần phải được biết rõ, quả của nghiệp cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của nghiệp cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của nghiệp cần phải được biết rõ.”
Dukkhaṁ, bhikkhave, veditabbaṁ, dukkhassa nidānasambhavo veditabbo, dukkhassa vemattatā veditabbā, dukkhassa vipāko veditabbo, dukkhanirodho veditabbo, dukkhanirodhagāminī paṭipadā veditabbā.
Suffering should be known. And its source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to its cessation should be known.
“Này các Tỳ khưu, khổ cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của khổ cần phải được biết rõ, sự khác biệt của khổ cần phải được biết rõ, quả của khổ cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của khổ cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ cần phải được biết rõ.”
‘Kāmā, bhikkhave, veditabbā, kāmānaṁ nidānasambhavo veditabbo, kāmānaṁ vemattatā veditabbā, kāmānaṁ vipāko veditabbo, kāmanirodho veditabbo, kāmanirodhagāminī paṭipadā veditabbā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā—cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Api ca kho, bhikkhave, nete kāmā kāmaguṇā nāmete ariyassa vinaye vuccanti—
‘Sensual pleasures should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, but why did I say it? There are these five kinds of sensual stimulation. Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. However, these are not sensual pleasures. In the training of the Noble One they’re called ‘kinds of sensual stimulation’.
“‘Này các Tỳ khưu, các dục cần phải được biết rõ, nguyên nhân sanh khởi của các dục cần phải được biết rõ, sự khác biệt của các dục cần phải được biết rõ, quả của các dục cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt của các dục cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt của các dục cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà điều này được nói? Này các Tỳ khưu, có năm dục trưởng dưỡng này: các sắc được nhận biết bởi mắt, khả ái, đáng yêu, đẹp lòng, có hình tướng đáng ưa, liên hệ đến dục, làm phát sanh tham ái; các tiếng được nhận biết bởi tai... các mùi được nhận biết bởi mũi... các vị được nhận biết bởi lưỡi... các vật xúc chạm được nhận biết bởi thân, khả ái, đáng yêu, đẹp lòng, có hình tướng đáng ưa, liên hệ đến dục, làm phát sanh tham ái. Tuy nhiên, này các Tỳ khưu, những thứ này không phải là dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh –”
Saṅkapparāgo purisassa kāmo, Nete kāmā yāni citrāni loke; Saṅkapparāgo purisassa kāmo, Tiṭṭhanti citrāni tatheva loke; Athettha dhīrā vinayanti chandanti.
Greedy intention is a person’s sensual pleasure. The world’s pretty things aren’t sensual pleasures. Greedy intention is a person’s sensual pleasure. The world’s pretty things stay just as they are, but the attentive remove desire for them.
“Tham dục do tư duy của con người là dục, những thứ đa dạng trong thế gian này không phải là dục; tham dục do tư duy của con người là dục, những thứ đa dạng vẫn tồn tại như vậy trong thế gian; và ở đây, bậc trí tuệ loại bỏ lòng ham muốn.”
Katamo ca, bhikkhave, kāmānaṁ nidānasambhavo? Phasso, bhikkhave, kāmānaṁ nidānasambhavo.
And what is the source of sensual pleasures? Contact is their source.
“Và này các Tỳ khưu, nguyên nhân sanh khởi của các dục là gì? Này các Tỳ khưu, xúc là nguyên nhân sanh khởi của các dục.”
Katamā ca, bhikkhave, kāmānaṁ vemattatā? Añño, bhikkhave, kāmo rūpesu, añño kāmo saddesu, añño kāmo gandhesu, añño kāmo rasesu, añño kāmo phoṭṭhabbesu. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, kāmānaṁ vemattatā.
And what is the diversity of sensual pleasures? The sensual desire for sights, sounds, smells, tastes, and touches are all different. This is called the diversity of sensual pleasures.
“Và này các Tỳ khưu, sự khác biệt của các dục là gì? Này các Tỳ khưu, dục đối với các sắc là khác, dục đối với các tiếng là khác, dục đối với các mùi là khác, dục đối với các vị là khác, dục đối với các vật xúc chạm là khác. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự khác biệt của các dục.”
Katamo ca, bhikkhave, kāmānaṁ vipāko? Yaṁ kho, bhikkhave, kāmayamāno tajjaṁ tajjaṁ attabhāvaṁ abhinibbatteti puññabhāgiyaṁ vā apuññabhāgiyaṁ vā, ayaṁ vuccati, bhikkhave, kāmānaṁ vipāko.
And what is the result of sensual pleasures? When one who desires sensual pleasures generates a corresponding incarnation, partaking of either good or bad deeds—this is called the result of sensual pleasures.
Này các Tỳ khưu, thế nào là quả của các dục? Này các Tỳ khưu, người có lòng ham muốn, tùy theo đó mà tạo ra tự thể thuộc về phần phước hoặc thuộc về phần phi phước. Này các Tỳ khưu, điều này được gọi là quả của các dục.
Katamo ca, bhikkhave, kāmanirodho? Phassanirodho, bhikkhave, kāmanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo kāmanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
And what is the cessation of sensual pleasures? When contact ceases, sensual pleasures cease. The practice that leads to the cessation of sensual pleasures is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt các dục? Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt của xúc là sự đoạn diệt các dục. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt các dục, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ kāme pajānāti, evaṁ kāmānaṁ nidānasambhavaṁ pajānāti, evaṁ kāmānaṁ vemattataṁ pajānāti, evaṁ kāmānaṁ vipākaṁ pajānāti, evaṁ kāmanirodhaṁ pajānāti, evaṁ kāmanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so imaṁ nibbedhikaṁ brahmacariyaṁ pajānāti kāmanirodhaṁ. Kāmā, bhikkhave, veditabbā …pe… kāmanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
When a noble disciple understands sensual pleasures in this way—and understands their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation—they understand that this penetrative spiritual life is the cessation of sensual pleasures. ‘Sensual pleasures should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri các dục như vậy, tuệ tri sự tập khởi của các dục như vậy, tuệ tri sự sai khác của các dục như vậy, tuệ tri quả của các dục như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt các dục như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt các dục như vậy, vị ấy tuệ tri phạm hạnh có tính chất thâm nhập này là sự đoạn diệt các dục. ‘Này các Tỳ khưu, các dục cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt các dục cần phải được biết rõ,’ lời nói ấy đã được nói ra là do duyên vào điều này mà được nói ra.
Vedanā, bhikkhave, veditabbā …pe… vedanānirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tisso imā, bhikkhave, vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
‘Feelings should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, but why did I say it? There are these three feelings: pleasant, painful, and neutral.
‘Này các Tỳ khưu, các cảm thọ cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt các cảm thọ cần phải được biết rõ,’ lời nói này đã được nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời ấy được nói ra? Này các Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này: lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ.
Katamo ca, bhikkhave, vedanānaṁ nidānasambhavo? Phasso, bhikkhave, vedanānaṁ nidānasambhavo.
And what is the source of feelings? Contact is their source.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự tập khởi của các cảm thọ? Này các Tỳ khưu, xúc là sự tập khởi của các cảm thọ.
Katamā ca, bhikkhave, vedanānaṁ vemattatā? Atthi, bhikkhave, sāmisā sukhā vedanā, atthi nirāmisā sukhā vedanā, atthi sāmisā dukkhā vedanā, atthi nirāmisā dukkhā vedanā, atthi sāmisā adukkhamasukhā vedanā, atthi nirāmisā adukkhamasukhā vedanā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanānaṁ vemattatā.
And what is the diversity of feelings? There are pleasant feelings of the flesh, pleasant feelings not of the flesh, painful feelings of the flesh, painful feelings not of the flesh, neutral feelings of the flesh, and neutral feelings not of the flesh. This is called the disparity of feelings.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự sai khác của các cảm thọ? Này các Tỳ khưu, có lạc thọ thuộc vật chất, có lạc thọ không thuộc vật chất; có khổ thọ thuộc vật chất, có khổ thọ không thuộc vật chất; có bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, có bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất. Này các Tỳ khưu, điều này được gọi là sự sai khác của các cảm thọ.
Katamo ca, bhikkhave, vedanānaṁ vipāko? Yaṁ kho, bhikkhave, vediyamāno tajjaṁ tajjaṁ attabhāvaṁ abhinibbatteti puññabhāgiyaṁ vā apuññabhāgiyaṁ vā, ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanānaṁ vipāko.
And what is the result of feelings? When one who feels generates a corresponding incarnation, partaking of either good or bad deeds—this is called the result of feelings.
Này các Tỳ khưu, thế nào là quả của các cảm thọ? Này các Tỳ khưu, người đang cảm thọ, tùy theo đó mà tạo ra tự thể thuộc về phần phước hoặc thuộc về phần phi phước. Này các Tỳ khưu, điều này được gọi là quả của các cảm thọ.
Katamo ca, bhikkhave, vedanānirodho? Phassanirodho, bhikkhave, vedanānirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is the cessation of feelings? When contact ceases, feelings cease. The practice that leads to the cessation of feelings is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt các cảm thọ? Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt của xúc là sự đoạn diệt các cảm thọ. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt các cảm thọ, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ vedanaṁ pajānāti, evaṁ vedanānaṁ nidānasambhavaṁ pajānāti, evaṁ vedanānaṁ vemattataṁ pajānāti, evaṁ vedanānaṁ vipākaṁ pajānāti, evaṁ vedanānirodhaṁ pajānāti, evaṁ vedanānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti. So imaṁ nibbedhikaṁ brahmacariyaṁ pajānāti vedanānirodhaṁ. Vedanā, bhikkhave, veditabbā …pe… vedanānirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
When a noble disciple understands feelings in this way … they understand that this penetrative spiritual life is the cessation of feelings. ‘Feelings should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri cảm thọ như vậy, tuệ tri sự tập khởi của các cảm thọ như vậy, tuệ tri sự sai khác của các cảm thọ như vậy, tuệ tri quả của các cảm thọ như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt các cảm thọ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt các cảm thọ như vậy, vị ấy tuệ tri phạm hạnh có tính chất thâm nhập này là sự đoạn diệt các cảm thọ. ‘Này các Tỳ khưu, các cảm thọ cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt các cảm thọ cần phải được biết rõ,’ lời nói ấy đã được nói ra là do duyên vào điều này mà được nói ra.
Saññā, bhikkhave, veditabbā …pe… saññānirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Chayimā, bhikkhave, saññā—rūpasaññā, saddasaññā, gandhasaññā, rasasaññā, phoṭṭhabbasaññā, dhammasaññā.
‘Perceptions should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, but why did I say it? There are these six perceptions: perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas.
‘Này các Tỳ khưu, tưởng cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt tưởng cần phải được biết rõ,’ lời nói này đã được nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời ấy được nói ra? Này các Tỳ khưu, có sáu loại tưởng này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, và pháp tưởng.
Katamo ca, bhikkhave, saññānaṁ nidānasambhavo? Phasso, bhikkhave, saññānaṁ nidānasambhavo.
And what is the source of perceptions? Contact is their source.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự tập khởi của các tưởng? Này các Tỳ khưu, xúc là sự tập khởi của các tưởng.
Katamā ca, bhikkhave, saññānaṁ vemattatā? Aññā, bhikkhave, saññā rūpesu, aññā saññā saddesu, aññā saññā gandhesu, aññā saññā rasesu, aññā saññā phoṭṭhabbesu, aññā saññā dhammesu. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, saññānaṁ vemattatā.
And what is the diversity of perceptions? The perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas are all different. This is called the diversity of perceptions.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự sai khác của các tưởng? Này các Tỳ khưu, tưởng đối với các sắc là khác, tưởng đối với các thanh là khác, tưởng đối với các hương là khác, tưởng đối với các vị là khác, tưởng đối với các xúc là khác, tưởng đối với các pháp là khác. Này các Tỳ khưu, điều này được gọi là sự sai khác của các tưởng.
Katamo ca, bhikkhave, saññānaṁ vipāko? Vohāravepakkaṁ, bhikkhave, saññaṁ vadāmi. Yathā yathā naṁ sañjānāti tathā tathā voharati, evaṁ saññī ahosinti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, saññānaṁ vipāko.
And what is the result of perceptions? Communication is the result of perception, I say. You communicate something in whatever manner you perceive it, saying ‘That’s what I perceived.’ This is called the result of perceptions.
Này các Tỳ khưu, thế nào là quả của các tưởng? Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng tưởng có quả là sự nói năng. Tùy theo cách người ấy tưởng tri như thế nào, người ấy nói năng như thế ấy: ‘Tôi đã có tưởng như vậy.’ Này các Tỳ khưu, điều này được gọi là quả của các tưởng.
Katamo ca, bhikkhave, saññānirodho? Phassanirodho, bhikkhave, saññānirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saññānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is the cessation of perception? When contact ceases, perception ceases. The practice that leads to the cessation of perceptions is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt tưởng? Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt của xúc là sự đoạn diệt tưởng. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt tưởng, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ saññaṁ pajānāti, evaṁ saññānaṁ nidānasambhavaṁ pajānāti, evaṁ saññānaṁ vemattataṁ pajānāti, evaṁ saññānaṁ vipākaṁ pajānāti, evaṁ saññānirodhaṁ pajānāti, evaṁ saññānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so imaṁ nibbedhikaṁ brahmacariyaṁ pajānāti saññānirodhaṁ. Saññā, bhikkhave, veditabbā …pe… saññānirodhagāminī paṭipadā veditabbāti. Iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
When a noble disciple understands perception in this way … they understand that this penetrative spiritual life is the cessation of perception. ‘Perceptions should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri tưởng như vậy, tuệ tri sự tập khởi của các tưởng như vậy, tuệ tri sự sai khác của các tưởng như vậy, tuệ tri quả của các tưởng như vậy, tuệ tri sự đoạn diệt các tưởng như vậy, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt các tưởng như vậy, vị ấy tuệ tri phạm hạnh có tính chất thâm nhập này là sự đoạn diệt các tưởng. ‘Này các Tỳ khưu, các tưởng cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt các tưởng cần phải được biết rõ,’ lời nói ấy đã được nói ra là do duyên vào điều này mà được nói ra.
Āsavā, bhikkhave, veditabbā …pe… āsavanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tayome, bhikkhave, āsavā—kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo.
‘Defilements should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, but why did I say it? There are these three defilements: the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.
‘Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc cần phải được biết rõ,’ lời nói này đã được nói ra. Do duyên vào điều gì mà lời ấy được nói ra? Này các Tỳ khưu, có ba loại lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.
Katamo ca, bhikkhave, āsavānaṁ nidānasambhavo? Avijjā, bhikkhave, āsavānaṁ nidānasambhavo.
And what is the source of defilements? Ignorance is the source of defilements.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự tập khởi của các lậu hoặc? Này các Tỳ khưu, vô minh là sự tập khởi của các lậu hoặc.
Katamā ca, bhikkhave, āsavānaṁ vemattatā? Atthi, bhikkhave, āsavā nirayagamanīyā, atthi āsavā tiracchānayonigamanīyā, atthi āsavā pettivisayagamanīyā, atthi āsavā manussalokagamanīyā, atthi āsavā devalokagamanīyā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, āsavānaṁ vemattatā.
And what is the disparity of defilements? There are defilements that lead to rebirth in hell, the animal realm, the ghost realm, the human world, and the world of the gods. This is called the disparity of defilements.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự khác biệt của các lậu hoặc? Này các Tỳ khưu, có những lậu hoặc đưa đến địa ngục, có những lậu hoặc đưa đến cõi bàng sanh, có những lậu hoặc đưa đến cõi ngạ quỷ, có những lậu hoặc đưa đến cõi người, có những lậu hoặc đưa đến cõi trời. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự khác biệt của các lậu hoặc.
Katamo ca, bhikkhave, āsavānaṁ vipāko? Yaṁ kho, bhikkhave, avijjāgato tajjaṁ tajjaṁ attabhāvaṁ abhinibbatteti puññabhāgiyaṁ vā apuññabhāgiyaṁ vā, ayaṁ vuccati, bhikkhave, āsavānaṁ vipāko.
And what is the result of defilements? When one who is ignorant generates a corresponding incarnation, partaking of either good or bad deeds—this is called the result of defilements.
Này các Tỳ khưu, thế nào là quả của các lậu hoặc? Này các Tỳ khưu, người bị vô minh chi phối, tùy theo phần phước đức hay phần phi phước đức mà tạo ra thân mạng tương ứng. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là quả của các lậu hoặc.
Katamo ca, bhikkhave, āsavanirodho? Avijjānirodho, bhikkhave, āsavanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo āsavanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is the cessation of defilements? When ignorance ceases, defilements cease. The practice that leads to the cessation of defilements is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt các lậu hoặc? Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt vô minh chính là sự đoạn diệt các lậu hoặc. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc, tức là: Chánh kiến... cho đến... Chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ āsave pajānāti, evaṁ āsavānaṁ nidānasambhavaṁ pajānāti, evaṁ āsavānaṁ vemattataṁ pajānāti, evaṁ āsavānaṁ vipākaṁ pajānāti, evaṁ āsavānaṁ nirodhaṁ pajānāti, evaṁ āsavānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so imaṁ nibbedhikaṁ brahmacariyaṁ pajānāti āsavanirodhaṁ. Āsavā, bhikkhave, veditabbā …pe… āsavanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti. Iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Kammaṁ, bhikkhave, veditabbaṁ …pe… kammanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cetanāhaṁ, bhikkhave, kammaṁ vadāmi. Cetayitvā kammaṁ karoti—kāyena vācāya manasā.
Katamo ca, bhikkhave, kammānaṁ nidānasambhavo?
When a noble disciple understands defilements in this way … they understand that this penetrative spiritual life is the cessation of defilements. ‘Defilements should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Deeds should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, but why did I say it? It is intention that I call deeds. For after making a choice one acts by way of body, speech, and mind.
And what is the source of deeds?
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ các lậu hoặc như vậy, biết rõ sự tập khởi của các lậu hoặc như vậy, biết rõ sự khác biệt của các lậu hoặc như vậy, biết rõ quả của các lậu hoặc như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của các lậu hoặc như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc như vậy, vị ấy biết rõ phạm hạnh có khả năng thâm nhập này là sự đoạn diệt các lậu hoặc. ‘Này các Tỳ khưu, các lậu hoặc cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc cần phải được biết rõ.’ Lời nói ấy đã được nói ra, chính là duyên vào điều này mà được nói ra.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự tập khởi của nghiệp? Này các Tỳ khưu, xúc là sự tập khởi của nghiệp.
Katamā ca, bhikkhave, kammānaṁ vemattatā? Atthi, bhikkhave, kammaṁ nirayavedanīyaṁ, atthi kammaṁ tiracchānayonivedanīyaṁ, atthi kammaṁ pettivisayavedanīyaṁ, atthi kammaṁ manussalokavedanīyaṁ, atthi kammaṁ devalokavedanīyaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, kammānaṁ vemattatā.
And what is the disparity of deeds? There are deeds that lead to rebirth in hell, the animal realm, the ghost realm, the human world, and the world of the gods. This is called the disparity of deeds.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự khác biệt của nghiệp? Này các Tỳ khưu, có nghiệp cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp cảm thọ ở cõi bàng sanh, có nghiệp cảm thọ ở cõi ngạ quỷ, có nghiệp cảm thọ ở cõi người, có nghiệp cảm thọ ở cõi trời. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự khác biệt của nghiệp.
Katamo ca, bhikkhave, kammānaṁ vipāko? Tividhāhaṁ, bhikkhave, kammānaṁ vipākaṁ vadāmi—diṭṭheva dhamme, upapajje vā, apare vā pariyāye. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, kammānaṁ vipāko.
And what is the result of deeds? The result of deeds is threefold, I say: in this very life, on rebirth in the next life, or at some later time. This is called the result of deeds.
Này các Tỳ khưu, thế nào là quả của nghiệp? Này các Tỳ khưu, Ta nói quả của nghiệp có ba loại: trong hiện tại, trong đời sau, hoặc trong một đời khác nữa. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là quả của nghiệp.
Katamo ca, bhikkhave, kammanirodho? Phassanirodho, bhikkhave, kammanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo kammanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is the cessation of deeds? When contact ceases, deeds cease. The practice that leads to the cessation of deeds is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt nghiệp? Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt xúc chính là sự đoạn diệt nghiệp. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt nghiệp, tức là: Chánh kiến... cho đến... Chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ kammaṁ pajānāti, evaṁ kammānaṁ nidānasambhavaṁ pajānāti, evaṁ kammānaṁ vemattataṁ pajānāti, evaṁ kammānaṁ vipākaṁ pajānāti, evaṁ kammanirodhaṁ pajānāti, evaṁ kammanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so imaṁ nibbedhikaṁ brahmacariyaṁ pajānāti kammanirodhaṁ. Kammaṁ, bhikkhave, veditabbaṁ …pe… kammanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
When a noble disciple understands deeds in this way … they understand that this penetrative spiritual life is the cessation of deeds. ‘Deeds should be known. And their source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to their cessation should be known.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ nghiệp như vậy, biết rõ sự tập khởi của nghiệp như vậy, biết rõ sự khác biệt của nghiệp như vậy, biết rõ quả của nghiệp như vậy, biết rõ sự đoạn diệt của nghiệp như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt nghiệp như vậy, vị ấy biết rõ phạm hạnh có khả năng thâm nhập này là sự đoạn diệt nghiệp. ‘Này các Tỳ khưu, nghiệp cần phải được biết rõ... cho đến... con đường đưa đến sự đoạn diệt nghiệp cần phải được biết rõ.’ Lời nói ấy đã được nói ra, chính là duyên vào điều này mà được nói ra.
Dukkhaṁ, bhikkhave, veditabbaṁ, dukkhassa nidānasambhavo veditabbo, dukkhassa vemattatā veditabbā, dukkhassa vipāko veditabbo, dukkhanirodho veditabbo, dukkhanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti. Iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṁ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
‘Suffering should be known. And its source, disparity, result, cessation, and the practice that leads to its cessation should be known.’ That’s what I said, but why did I say it? Rebirth is suffering; old age is suffering; illness is suffering; death is suffering; sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering.
‘Này các Tỳ khưu, khổ cần phải được biết rõ, sự tập khởi của khổ cần phải được biết rõ, sự khác biệt của khổ cần phải được biết rõ, quả của khổ cần phải được biết rõ, sự đoạn diệt khổ cần phải được biết rõ, con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ cần phải được biết rõ.’ Lời nói ấy đã được nói ra, duyên vào điều gì mà lời ấy được nói ra? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, cầu không được cũng là khổ, tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Katamo ca, bhikkhave, dukkhassa nidānasambhavo? Taṇhā, bhikkhave, dukkhassa nidānasambhavo.
And what is the source of suffering? Craving is the source of suffering.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự tập khởi của khổ? Này các Tỳ khưu, ái là sự tập khởi của khổ.
Katamā ca, bhikkhave, dukkhassa vemattatā? Atthi, bhikkhave, dukkhaṁ adhimattaṁ, atthi parittaṁ, atthi dandhavirāgi, atthi khippavirāgi. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhassa vemattatā.
And what is the disparity of suffering? There is suffering that is severe, mild, slow to fade, and quick to fade. This is called the disparity of suffering.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự khác biệt của khổ? Này các Tỳ khưu, có khổ mãnh liệt, có khổ ít ỏi, có khổ phai nhạt chậm, có khổ phai nhạt nhanh. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự khác biệt của khổ.
Katamo ca, bhikkhave, dukkhassa vipāko? Idha, bhikkhave, ekacco yena dukkhena abhibhūto pariyādinnacitto socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati, yena vā pana dukkhena abhibhūto pariyādinnacitto bahiddhā pariyeṭṭhiṁ āpajjati: ‘ko ekapadaṁ dvipadaṁ jānāti imassa dukkhassa nirodhāyā’ti? Sammohavepakkaṁ vāhaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ vadāmi pariyeṭṭhivepakkaṁ vā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhassa vipāko.
And what is the result of suffering? It’s when someone who is overcome and overwhelmed by suffering sorrows and wails and laments, beating their breast and falling into confusion. Or else, overcome by that suffering, they begin an external search, wondering: ‘Who knows one or two phrases to stop this suffering?’ The result of suffering is either confusion or a search, I say. This is called the result of suffering.
Này các Tỳ khưu, thế nào là quả của khổ? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người bị khổ chinh phục, tâm bị chi phối, nên sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, đi đến mê loạn. Hoặc là, bị khổ chinh phục, tâm bị chi phối, người ấy tìm kiếm bên ngoài: ‘Ai biết được một câu hay hai câu để đoạn diệt khổ này?’ Ta nói rằng khổ có quả là sự mê loạn hoặc có quả là sự tìm kiếm. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là quả của khổ.
Katamo ca, bhikkhave, dukkhanirodho? Taṇhānirodho, bhikkhave, dukkhanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo dukkhassa nirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is the cessation of suffering? When craving ceases, suffering ceases. The practice that leads to the cessation of suffering is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thế nào là sự đoạn diệt khổ? Này các Tỳ khưu, sự đoạn diệt ái chính là sự đoạn diệt khổ. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ, tức là: Chánh kiến... cho đến... Chánh định.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ dukkhaṁ pajānāti, evaṁ dukkhassa nidānasambhavaṁ pajānāti, evaṁ dukkhassa vemattataṁ pajānāti, evaṁ dukkhassa vipākaṁ pajānāti, evaṁ dukkhanirodhaṁ pajānāti, evaṁ dukkhanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, so imaṁ nibbedhikaṁ brahmacariyaṁ pajānāti dukkhanirodhaṁ. Dukkhaṁ, bhikkhave, veditabbaṁ, dukkhassa nidānasambhavo veditabbo, dukkhassa vemattatā veditabbā, dukkhassa vipāko veditabbo, dukkhanirodho veditabbo, dukkhanirodhagāminī paṭipadā veditabbāti. Iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
When a noble disciple understands suffering in this way … they understand that this penetrative spiritual life is the cessation of suffering. ‘Suffering should be known. And its source, diversity, result, cessation, and the practice that leads to its cessation should be known.’ That’s what I said, and this is why I said it.
Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử biết rõ khổ như thế này, biết rõ sự sanh khởi của nguyên nhân khổ như thế này, biết rõ sự khác biệt của khổ như thế này, biết rõ quả của khổ như thế này, biết rõ sự diệt khổ như thế này, biết rõ con đường đưa đến sự diệt khổ như thế này, vị ấy biết rõ phạm hạnh này có khả năng xuyên thủng, đưa đến sự diệt khổ. Này các Tỳ khưu, khổ cần phải được biết, nguyên nhân sanh khởi của khổ cần phải được biết, sự khác biệt của khổ cần phải được biết, quả của khổ cần phải được biết, sự diệt khổ cần phải được biết, con đường đưa đến sự diệt khổ cần phải được biết. Lời đã được nói như vậy, chính là do duyên vào điều này mà được nói.
Ayaṁ kho so, bhikkhave, nibbedhikapariyāyo dhammapariyāyo”ti.
Navamaṁ.
This is the penetrative exposition of the teaching.”
Này các Tỳ khưu, đây chính là pháp môn, pháp môn có khả năng xuyên thủng. Hết kinh thứ chín.