- Aṅguttara Nikāya 6.64
- 6. Mahāvagga
Bản dịch
AN 6.64 — Tiếng Rống Con Sư Tử
Sīhanādasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có sáu Như Lai lực của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe pháp. Thế nào là sáu?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe pháp.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ kheo, Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại. Này các Tỷ kheo , Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, như vậy là Như Lai lực của Như Lai…. chuyển bánh xe pháp.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật biết… và chuyển bánh xe pháp.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết… và chuyển bánh xe pháp.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh… Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết… và chuyển bánh xe pháp.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng con sư tử trong các hội chúng và chuyển bánh xe pháp.
Này các Tỷ-kheo, có sáu Như Lai lực này của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe chánh pháp.
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ.
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại.
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về thiền, về giải thoát, về định, này các Tỷ-kheo; tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của thành tựu về Thiền, về giải thoát, về định; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định.
TTC 11Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về nhớ đến các đời sống quá khứ, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai, về nhớ đến các đời sống quá khứ; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về nhớ đến các đời sống quá khứ.
TTC 12Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của các chúng sanh, này các Tỷ-kheo, tùy theo, tùy theo như thật trí hiểu biết của Như Lai về sự sanh diệt của các chúng sanh; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của các chúng sanh.
TTC 13Ở đây, này các Tỷ-kheo nếu có những người khác đến hỏi Như Lai các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các lậu hoặc; hiểu biết của Như Lai về sự đoạn diệt các lậu hoặc; tùy theo như vậy, tùy theo như vậy, Như Lai trả lời các câu hỏi liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các lậu hoặc.
TTC 14Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí này, về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không Thiền định. Liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có Thiền định. Liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí, nhớ đến các đời sống quá khứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không thiền định. Liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của chúng sanh, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có thiền định . Như vậy, này các Tỷ-kheo, định là chánh đạo, không định là tà đạo.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.64
- 6. The Great Chapter
The Lion’s Roar
10. Kinh Tiếng Rống Sư Tử
“Chayimāni, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalāni, yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti. Katamāni cha?
Idha, bhikkhave, tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
“Mendicants, the Realized One possesses six powers of a Realized One. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel. What six?
Firstly, the Realized One truly understands the possible as possible and the impossible as impossible. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. Relying on this he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
64. Này các Tỳ khưu, có sáu Như Lai lực này của Như Lai. Sau khi đã thành tựu các lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng. Sáu là những gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ như thật điều có thể là điều có thể, và điều không thể là điều không thể. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai biết rõ như thật điều có thể là điều có thể, và điều không thể là điều không thể, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai. Dựa vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands the result of deeds undertaken in the past, future, and present in terms of grounds and causes. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ như thật về quả báo của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, về phương diện vị trí và nguyên nhân. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai biết rõ như thật về quả báo của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, về phương diện vị trí và nguyên nhân, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai. Dựa vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato …pe… idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One truly understands corruption, cleansing, and emergence regarding the absorptions, liberations, immersions, and attainments. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ như thật về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai... này cũng là Như Lai lực của Như Lai. Dựa vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ, dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Yampi, bhikkhave, tathāgato anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ, dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One recollects many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. He remembers: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so he recollects his many kinds of past lives, with features and details. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một kiếp, hai kiếp... như vậy, với các chi tiết và đặc điểm, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một kiếp, hai kiếp... như vậy, với các chi tiết và đặc điểm, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai. Dựa vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti. Yampi, bhikkhave, tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajānāti, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, with clairvoyance that is purified and superhuman, the Realized One sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. He understands how sentient beings pass on according to their deeds. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường... biết rõ các chúng sanh tái sanh tùy theo nghiệp của họ. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường... biết rõ các chúng sanh tái sanh tùy theo nghiệp của họ, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai. Dựa vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tathāgato āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati. Yampi, bhikkhave, tathāgato āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati, idampi, bhikkhave, tathāgatassa tathāgatabalaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti. Imāni kho, bhikkhave, cha tathāgatassa tathāgatabalāni, yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Furthermore, the Realized One has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And he lives having realized it with his own insight in this very life due to the ending of defilements. Since he truly understands this, this is a power of the Realized One. Relying on this he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel. These are the six powers of a Realized One that the Realized One possesses. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Như Lai do sự đoạn tận các lậu hoặc... sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, thành tựu và an trú. Này các Tỳ khưu, việc Như Lai do sự đoạn tận các lậu hoặc... sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, thành tựu và an trú, đây cũng là Như Lai lực của Như Lai. Dựa vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng. Này các Tỳ khưu, đây chính là sáu Như Lai lực của Như Lai. Sau khi đã thành tựu các lực ấy, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ ñāṇena upasaṅkamitvā pañhaṁ pucchanti. Yathā yathā, bhikkhave, tathāgatassa ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ ñāṇaṁ viditaṁ tathā tathā tesaṁ tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ ñāṇena pañhaṁ puṭṭho byākaroti.
If others come to the Realized One and ask questions about his true knowledge of the possible as possible and the impossible as impossible, the Realized One answers them in whatever manner he has truly known it.
Ở đó, này các Tỳ khưu, nếu những người khác đến gần Như Lai và hỏi một câu hỏi về trí tuệ biết rõ như thật điều có thể là điều có thể và điều không thể là điều không thể. Này các Tỳ khưu, theo cách nào mà trí tuệ của Như Lai đã biết rõ như thật điều có thể là điều có thể và điều không thể là điều không thể, thì theo cách đó, Như Lai, khi được hỏi câu hỏi bằng trí tuệ về điều có thể là điều có thể và điều không thể là điều không thể như thật, sẽ trả lời cho họ.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ ñāṇena upasaṅkamitvā pañhaṁ pucchanti. Yathā yathā, bhikkhave, tathāgatassa atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ viditaṁ tathā tathā tesaṁ tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ ñāṇena pañhaṁ puṭṭho byākaroti.
If others come to the Realized One and ask questions about his true knowledge of the result of deeds undertaken in the past, future, and present in terms of grounds and causes, the Realized One answers them in whatever manner he has truly known it.
Ở đó, này các Tỳ khưu, nếu những người khác đến gần Như Lai và hỏi một câu hỏi về trí tuệ biết rõ như thật về quả báo của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, về phương diện vị trí và nguyên nhân. Này các Tỳ khưu, theo cách nào mà trí tuệ của Như Lai đã biết rõ như thật về quả báo của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, về phương diện vị trí và nguyên nhân, thì theo cách đó, Như Lai, khi được hỏi câu hỏi bằng trí tuệ về quả báo của các nghiệp đã được tạo tác trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, về phương diện vị trí và nguyên nhân như thật, sẽ trả lời cho họ.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ ñāṇena upasaṅkamitvā pañhaṁ pucchanti. Yathā yathā, bhikkhave, tathāgatassa jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ viditaṁ tathā tathā tesaṁ tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ ñāṇena pañhaṁ puṭṭho byākaroti.
If others come to the Realized One and ask questions about his true knowledge of corruption, cleansing, and emergence regarding the absorptions, liberations, immersions, and attainments, the Realized One answers them in whatever manner he has truly known it.
“Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu có những người khác đến gần Như Lai và hỏi câu hỏi về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập định bằng trí tuệ như thật. Này các Tỳ khưu, theo cách nào mà trí tuệ như thật về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập định được Như Lai biết rõ, thì theo cách ấy, Như Lai, khi được hỏi câu hỏi, trả lời cho họ bằng trí tuệ như thật về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập định.”
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ pubbenivāsānussatiṁ yathābhūtaṁ ñāṇena upasaṅkamitvā pañhaṁ pucchanti. Yathā yathā, bhikkhave, tathāgatassa pubbenivāsānussatiṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ viditaṁ tathā tathā tesaṁ tathāgato pubbenivāsānussatiṁ yathābhūtaṁ ñāṇena pañhaṁ puṭṭho byākaroti.
If others come to the Realized One and ask questions about his true knowledge of recollection of past lives, the Realized One answers them in whatever manner he has truly known it.
“Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu có những người khác đến gần Như Lai và hỏi câu hỏi về túc mạng tùy niệm bằng trí tuệ như thật. Này các Tỳ khưu, theo cách nào mà trí tuệ như thật về túc mạng tùy niệm được Như Lai biết rõ, thì theo cách ấy, Như Lai, khi được hỏi câu hỏi, trả lời cho họ bằng trí tuệ như thật về túc mạng tùy niệm.”
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ sattānaṁ cutūpapātaṁ yathābhūtaṁ ñāṇena upasaṅkamitvā pañhaṁ pucchanti. Yathā yathā, bhikkhave, tathāgatassa sattānaṁ cutūpapātaṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ viditaṁ tathā tathā tesaṁ tathāgato sattānaṁ cutūpapātaṁ yathābhūtaṁ ñāṇena pañhaṁ puṭṭho byākaroti.
If others come to the Realized One and ask questions about his true knowledge of passing away and rebirth of sentient beings, the Realized One answers them in whatever manner he has truly known it.
“Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu có những người khác đến gần Như Lai và hỏi câu hỏi về sự chết và tái sanh của chúng sanh bằng trí tuệ như thật. Này các Tỳ khưu, theo cách nào mà trí tuệ như thật về sự chết và tái sanh của chúng sanh được Như Lai biết rõ, thì theo cách ấy, Như Lai, khi được hỏi câu hỏi, trả lời cho họ bằng trí tuệ như thật về sự chết và tái sanh của chúng sanh.”
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ āsavānaṁ khayā …pe… yathābhūtaṁ ñāṇena upasaṅkamitvā pañhaṁ pucchanti. Yathā yathā, bhikkhave, tathāgatassa āsavānaṁ khayā …pe… yathābhūtaṁ ñāṇaṁ viditaṁ tathā tathā tesaṁ tathāgato āsavānaṁ khayā …pe… yathābhūtaṁ ñāṇena pañhaṁ puṭṭho byākaroti.
If others come to the Realized One and ask questions about his true knowledge of the ending of defilements, the Realized One answers them in whatever manner he has truly known it.
“Này các Tỳ khưu, trong trường hợp ấy, nếu có những người khác đến gần Như Lai và hỏi câu hỏi về sự đoạn tận các lậu hoặc... vân vân... bằng trí tuệ như thật. Này các Tỳ khưu, theo cách nào mà trí tuệ như thật về sự đoạn tận các lậu hoặc... vân vân... được Như Lai biết rõ, thì theo cách ấy, Như Lai, khi được hỏi câu hỏi, trả lời cho họ bằng trí tuệ như thật về sự đoạn tận các lậu hoặc... vân vân...”
Tatra, bhikkhave, yampidaṁ ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṁ ñāṇaṁ tampi samāhitassa vadāmi no asamāhitassa. Yampidaṁ atītānāgatapaccuppannānaṁ kammasamādānānaṁ ṭhānaso hetuso vipākaṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ tampi samāhitassa vadāmi no asamāhitassa. Yampidaṁ jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ vuṭṭhānaṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ tampi samāhitassa vadāmi no asamāhitassa. Yampidaṁ pubbenivāsānussatiṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ tampi samāhitassa vadāmi no asamāhitassa. Yampidaṁ sattānaṁ cutūpapātaṁ yathābhūtaṁ ñāṇaṁ tampi samāhitassa vadāmi no asamāhitassa. Yampidaṁ āsavānaṁ khayā …pe… yathābhūtaṁ ñāṇaṁ tampi samāhitassa vadāmi no asamāhitassa.
Iti kho, bhikkhave, samādhi maggo, asamādhi kummaggo”ti.
Dasamaṁ.
And I say that true knowledge of the possible as possible and the impossible as impossible is for those with immersion, not for those without immersion. And true knowledge of the result of deeds undertaken in the past, future, and present in terms of grounds and causes is for those with immersion, not for those without immersion. And true knowledge of corruption, cleansing, and emergence regarding the absorptions, liberations, immersions, and attainments is for those with immersion, not for those without immersion. And true knowledge of the recollection of past lives is for those with immersion, not for those without immersion. And true knowledge of the passing away and rebirth of sentient beings is for those with immersion, not for those without immersion. And true knowledge of the ending of defilements is for those with immersion, not for those without immersion.
And so, mendicants, immersion is the path. No immersion is the wrong path.”
“Này các Tỳ khưu, ở đây, trí tuệ nào biết như thật về điều có thể là nhân theo cách là nhân và điều không thể là nhân theo cách không là nhân, Ta nói trí tuệ ấy là cho người có định, không phải cho người không có định. Trí tuệ nào biết như thật về quả báo của các hành vi nghiệp đã được thực hiện trong quá khứ, tương lai, và hiện tại, theo nhân duyên và nguyên nhân, Ta cũng nói trí tuệ ấy là cho người có định, không phải cho người không có định. Trí tuệ nào biết như thật về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập định, Ta cũng nói trí tuệ ấy là cho người có định, không phải cho người không có định. Trí tuệ nào biết như thật về túc mạng tùy niệm, Ta cũng nói trí tuệ ấy là cho người có định, không phải cho người không có định. Trí tuệ nào biết như thật về sự chết và tái sanh của chúng sanh, Ta cũng nói trí tuệ ấy là cho người có định, không phải cho người không có định. Trí tuệ nào biết như thật về sự đoạn tận các lậu hoặc... vân vân..., Ta cũng nói trí tuệ ấy là cho người có định, không phải cho người không có định. Này các Tỳ khưu, quả thật như vậy, định là con đường, không định là con đường sai lạc.” Hết bài kinh thứ mười.
Mahāvaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lớn, thứ sáu.
Soṇo phagguno bhijāti, āsavā dāruhatthi ca; Majjhe ñāṇaṁ nibbedhikaṁ, sīhanādoti te dasāti.
Soṇa, Phagguna, các loại sanh, các lậu hoặc, người đốn củi và con voi; ở giữa là trí tuệ, sự thâm nhập, và tiếng rống sư tử, đó là mười bài kinh.