- Aṅguttara Nikāya 6.62
- 6. Mahāvagga
Purisindriyañāṇasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Purisindriyañāṇasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỷ-kheo ấy đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Ananda cùng với một số đông Tỷ-kheo, đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho khô.
TTC 2Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:
—Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được” hay có phải nhờ một Thiên nhân?
—Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố.
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, với một số đông Tỷ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo đi đến con, sau khi đến thưa với con: “Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân? “
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời Tỷ-kheo ấy: “Thưa Hiền giả, thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố”.
—Này Ananda, hoặc Tỷ-kheo ấy là vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là Tỷ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác, này Ananda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được”. Cho đến khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như Lai sẽ phân tích về căn trí của con người.
—Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 3—Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 4Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy”. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng cội gốc của pháp bất thiện chưa được cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai”. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, đã biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 5Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Ví như, này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, và những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?
—Có thể được, này Ananda.
Thế Tôn nói như sau:
TTC 6—Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện khởi; và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt và nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, các cục than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, được quăng trên đất sỏi. Này Ananda, Thầy có biết không, đống than này không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, vào buổi chiều, mặt trời đang lặn, Thầy có thể biết được chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, khi đêm đã qua một phần, trong thời gian ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy, biết rằng: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi. Và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt, đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người, với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 7Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, đống than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, quăng trên một đống cỏ khô, hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này sẽ được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Ananda, đêm đã gần mãn, mặt trời đang mọc; này Ananda, Thầy có biết chăng bóng tối sắp sửa biến mất, ánh sáng sẽ hiện ra”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Ananda, trong một thời gian sau, vào giữa trưa, vào giờ ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, bóng tối đã biến mất, ánh sáng đã hiện ra”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện được hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 8Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Ví như, này Ananda, những cục than nguội lạnh, đã dập tắt, bị quăng trên đống cỏ hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này không thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Cũng vậy, ở đây này Aụnanda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được căn trí của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Ở đây, này Ananda, ba hạng người trước, một trong ba người ấy không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một bị rơi vào đọa xứ, địa ngục. Ở đây, này Ananda, trong ba hạng người sau, một trong ba hạng người này không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một được nhập Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Trí Về Căn Của Người
62. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ khưu, Ngài đã đến một thị trấn của người Kosala tên là Daṇḍakappaka. Bấy giờ, Thế Tôn rời khỏi con đường, ngồi xuống trên một chỗ ngồi đã được chuẩn bị sẵn dưới gốc một cây. Và các vị tỳ khưu ấy đã vào Daṇḍakappaka để tìm chỗ ở.
Atha kho āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena aciravatī nadī tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ. Aciravatiyā nadiyā gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho aññataro bhikkhu yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho, āvuso ānanda, sabbaṁ cetaso samannāharitvā nu kho devadatto bhagavatā byākato:
Then Venerable Ānanda together with several mendicants went to the Aciravatī River to bathe. When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs.
Then a certain mendicant went up to Venerable Ānanda, and said to him, “Reverend Ānanda, when the Buddha declared that Devadatta was
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda cùng với nhiều vị tỳ khưu đi đến sông Aciravatī để tắm rửa. Sau khi tắm rửa ở sông Aciravatī, ngài đi lên bờ, chỉ đắp một y, đứng cho thân mình được khô ráo. Bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, vị ấy nói với Tôn giả Ānanda rằng: – Này hiền giả Ānanda, có phải chăng Thế Tôn, sau khi đã quán xét tất cả bằng tâm trí, đã tuyên bố về Devadatta rằng: ‘Devadatta sẽ bị đọa vào cảnh khổ, đọa vào địa ngục, ở lại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được’, hay là Ngài đã tuyên bố bằng một phương cách nào khác? – Này hiền giả, quả thật Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.
Evaṁ kho panetaṁ, āvuso, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena aciravatī nadī tenupasaṅkamiṁ gattāni parisiñcituṁ. Aciravatiyā nadiyā gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṁ gattāni pubbāpayamāno. Atha kho, bhante, aññataro bhikkhu yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca: ‘kiṁ nu kho, āvuso ānanda, sabbaṁ cetaso samannāharitvā nu kho devadatto bhagavatā byākato—āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekicchoti, udāhu kenacideva pariyāyenā’ti? Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ: ‘evaṁ kho panetaṁ, āvuso, bhagavatā byākatan’”ti.
“You’re right, reverend, that’s how the Buddha declared it.”
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: – Bạch Thế Tôn, ở đây, con cùng với nhiều vị tỳ khưu đi đến sông Aciravatī để tắm rửa. Sau khi tắm rửa ở sông Aciravatī, con đi lên bờ, chỉ đắp một y, đứng cho thân mình được khô ráo. Bạch Thế Tôn, bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó đi đến chỗ con; sau khi đến, vị ấy nói với con rằng: ‘Này hiền giả Ānanda, có phải chăng Thế Tôn, sau khi đã quán xét tất cả bằng tâm trí, đã tuyên bố về Devadatta rằng: ‘Devadatta sẽ bị đọa vào cảnh khổ, đọa vào địa ngục, ở lại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được’, hay là Ngài đã tuyên bố bằng một phương cách nào khác?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói như vậy, con đã nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này hiền giả, quả thật Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.’
“So vā kho, ānanda, bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto. Kathañhi nāma yaṁ mayā ekaṁsena byākataṁ tattha dvejjhaṁ āpajjissati. Nāhaṁ, ānanda, aññaṁ ekapuggalampi samanupassāmi, yo evaṁ mayā sabbaṁ cetaso samannāharitvā byākato, yathayidaṁ devadatto.
Yāvakīvañcāhaṁ, ānanda, devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ addasaṁ; neva tāvāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ: ‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti. Yato ca kho ahaṁ, ānanda, devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ na addasaṁ; athāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ: ‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
“Ānanda, that mendicant must be junior, recently gone forth, or else a foolish, incompetent senior mendicant. How on earth can he take something that I have declared categorically to be ambiguous? I do not see a single other individual about whom I have given such whole-hearted deliberation before making a declaration as I did in the case of Devadatta.
As long as I saw even a fraction of a hair’s tip of goodness in Devadatta I did not declare that he was going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable. But when I saw that there was not even a fraction of a hair’s tip of goodness in Devadatta I declared that he was going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable.
– Này Ānanda, vị tỳ khưu ấy hoặc là người mới tu, xuất gia chưa bao lâu, hoặc nếu là trưởng lão thì là kẻ ngu si, không khéo léo. Làm sao lại có thể sanh tâm hoài nghi về điều đã được Ta tuyên bố một cách dứt khoát! Này Ānanda, Ta không thấy một người nào khác đã được Ta tuyên bố như vậy, sau khi đã quán xét tất cả bằng tâm trí, giống như Devadatta này. Này Ānanda, chừng nào Ta còn thấy ở Devadatta một thiện pháp dù chỉ nhỏ bằng đầu sợi lông; chừng đó Ta vẫn chưa tuyên bố về Devadatta rằng: ‘Devadatta sẽ bị đọa vào cảnh khổ, đọa vào địa ngục, ở lại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.’ Và này Ānanda, kể từ khi Ta không còn thấy ở Devadatta một thiện pháp nào dù chỉ nhỏ bằng đầu sợi lông; bấy giờ Ta mới tuyên bố về Devadatta rằng: ‘Devadatta sẽ bị đọa vào cảnh khổ, đọa vào địa ngục, ở lại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.’
Seyyathāpi, ānanda, gūthakūpo sādhikaporiso pūro gūthassa samatittiko. Tatra puriso sasīsako nimuggo assa. Tassa kocideva puriso uppajjeyya atthakāmo hitakāmo yogakkhemakāmo tamhā gūthakūpā uddharitukāmo. So taṁ gūthakūpaṁ samantānuparigacchanto neva passeyya tassa purisassa vālaggakoṭinittudanamattampi gūthena amakkhitaṁ, yattha taṁ gahetvā uddhareyya.
Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, yato devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ na addasaṁ; athāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ: ‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti. Sace tumhe, ānanda, suṇeyyātha tathāgatassa purisindriyañāṇāni vibhajissāmī”ti?
Suppose there was a sewer deeper than a man’s height, full to the brim with feces, and someone was sunk into it over their head. Then along comes a person who wants to help make them safe, who wants to lift them out of that sewer. But circling all around the sewer they couldn’t see even a fraction of a hair’s tip of that person that was not smeared with feces.
In the same way, when I saw that there was not even a fraction of a hair’s tip of goodness in Devadatta I declared that he was going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable. If you would all listen, Ānanda, I will analyze the Realized One’s knowledges of the faculties of persons.”
– Này Ānanda, ví như có một hố phân sâu hơn chiều cao của một người, đầy phân cho đến miệng hố. Ở đó, có một người bị chìm ngập cả đầu. Rồi có một người nào đó xuất hiện, mong muốn lợi ích, mong muốn hạnh phúc, mong muốn sự an ổn cho người kia, và muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân. Người ấy đi vòng quanh hố phân và không thể thấy được một chỗ nào trên thân người kia, dù chỉ nhỏ bằng đầu sợi lông, mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy mà kéo lên. Cũng vậy, này Ānanda, kể từ khi Ta không còn thấy ở Devadatta một thiện pháp nào dù chỉ nhỏ bằng đầu sợi lông; bấy giờ Ta mới tuyên bố về Devadatta rằng: ‘Devadatta sẽ bị đọa vào cảnh khổ, đọa vào địa ngục, ở lại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.’ Này Ānanda, nếu các ngươi muốn nghe, Ta sẽ phân tích về trí tuệ biết các căn của chúng sanh của Như Lai.
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo yaṁ bhagavā purisindriyañāṇāni vibhajeyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha analyze the faculties of persons. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. The Buddha said this:
– Bạch Thế Tôn, đây là thời điểm; bạch Thiện Thệ, đây là thời điểm để Thế Tôn phân tích về trí tuệ biết các căn của chúng sanh. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các vị tỳ khưu sẽ ghi nhớ. – Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói. – Xin vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Idhāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa kusalā kusalaṁ pātubhavissati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti. Seyyathāpi, ānanda, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sāradāni sukhasayitāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni. Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, imāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa kusalā kusalaṁ pātubhavissati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
“Ānanda, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’ After some time I encompass their mind and understand: ‘The skillful qualities of this individual have vanished, but the unskillful qualities are still present. Nevertheless, their skillful root is unbroken, and from that the skillful will appear. So this individual is not liable to decline in the future.’ Suppose some seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. And they were sown in a well-prepared, productive field. Wouldn’t you know that those seeds would grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand … This individual is not liable to decline in the future … This is how another individual is known to the Realized One by encompassing their mind. And this is how the Realized One knows a person’s faculties by encompassing their mind. And this is how the Realized One knows the future origination of a person’s qualities by encompassing their mind.
“Này Ānanda, ở đây, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết như sau: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu.’ Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của vị ấy và biết như sau: ‘Vị này quả thật các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện rõ. Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn có gốc rễ thiện chưa bị cắt đứt, từ gốc rễ thiện ấy, pháp thiện sẽ khởi sanh. Như vậy, trong tương lai, vị này sẽ là người có pháp không bị suy thoái.’ Ví như, này Ānanda, những hạt giống không bị bể, không bị hư, không bị gió và nắng làm hỏng, có lõi tốt, được cất giữ cẩn thận, được gieo vào thửa ruộng tốt đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Này Ānanda, ngươi có biết rằng: ‘Những hạt giống này sẽ tăng trưởng, nảy mầm, và phát triển dồi dào’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Cũng vậy, này Ānanda, ở đây, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết như sau: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu.’ Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của vị ấy và biết như sau: ‘Vị này quả thật các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện rõ. Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn có gốc rễ thiện chưa bị cắt đứt, từ gốc rễ thiện ấy, pháp thiện sẽ khởi sanh. Như vậy, trong tương lai, vị này sẽ là người có pháp không bị suy thoái.’ Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, hạng người được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm. Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, trí tuệ về các căn của người được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm. Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, sự sanh khởi của các pháp trong tương lai được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa akusalā akusalaṁ pātubhavissati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti. Seyyathāpi, ānanda, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sāradāni sukhasayitāni puthusilāya nikkhittāni. Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa akusalā akusalaṁ pātubhavissati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’ After some time I encompass their mind and understand: ‘The unskillful qualities of this individual have vanished, but the skillful qualities are still present. Nevertheless, their unskillful root is unbroken, and from that the unskillful will appear. So this individual is still liable to decline in the future.’ Suppose some seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. And they were sown on a broad rock. Wouldn’t you know that those seeds would not grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand … This individual is still liable to decline in the future … This is how another individual is known to the Realized One …
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết như sau: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu.’ Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của vị ấy và biết như sau: ‘Vị này quả thật các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đã hiện rõ. Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn có gốc rễ bất thiện chưa bị cắt đứt, từ gốc rễ bất thiện ấy, pháp bất thiện sẽ khởi sanh. Như vậy, trong tương lai, vị này sẽ là người có pháp bị suy thoái.’ Ví như, này Ānanda, những hạt giống không bị bể, không bị hư, không bị gió và nắng làm hỏng, có lõi tốt, được cất giữ cẩn thận, được đặt trên một tảng đá lớn. Này Ānanda, ngươi có biết rằng: ‘Những hạt giống này sẽ không tăng trưởng, không nảy mầm, và không phát triển dồi dào’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Cũng vậy, này Ānanda, ở đây, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết như sau: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu.’ Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của vị ấy và biết như sau: ‘Vị này quả thật các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đã hiện rõ. Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn có gốc rễ bất thiện chưa bị cắt đứt, từ gốc rễ bất thiện ấy, pháp bất thiện sẽ khởi sanh. Như vậy, trong tương lai, vị này sẽ là người có pháp bị suy thoái.’ Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, hạng người được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm. Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, trí tuệ về các căn của người được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm. Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, sự sanh khởi của các pháp trong tương lai được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi sukko dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantakāḷakehi akusalehi dhammehi, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatī’ti. Seyyathāpi, ānanda, bījāni khaṇḍāni pūtīni vātātapahatāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni. Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi sukko dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantakāḷakehi akusalehi dhammehi, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatī’ti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hotī”ti.
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’ After some time I encompass their mind and understand: ‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of goodness. They have absolutely dark, unskillful qualities. When their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’ Suppose some seeds were broken, spoiled, weather-damaged. And they were sown in a well-prepared, productive field. Wouldn’t you know that those seeds would not grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand … ‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of goodness. They have absolutely dark, unskillful qualities. When their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’ …”
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết như sau: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu.’ Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của vị ấy và biết như sau: ‘Vị này không có pháp trong sạch nào dù chỉ bằng một đầu sợi lông; vị này đã hội đủ các pháp bất thiện hoàn toàn đen tối, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Ví như, này Ānanda, những hạt giống bị bể, bị hư, bị gió và nắng làm hỏng, được gieo vào thửa ruộng tốt đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Này Ānanda, ngươi có biết rằng: ‘Những hạt giống này sẽ không tăng trưởng, không nảy mầm, và không phát triển dồi dào’ không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” “Cũng vậy, này Ānanda, ở đây, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết như sau: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu.’ Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình thấu suốt tâm của vị ấy và biết như sau: ‘Vị này không có pháp trong sạch nào dù chỉ bằng một đầu sợi lông; vị này đã hội đủ các pháp bất thiện hoàn toàn đen tối, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, hạng người được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm. Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, trí tuệ về các căn của người được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm. Này Ānanda, cũng vậy, đối với Như Lai, sự sanh khởi của các pháp trong tương lai được biết đến qua việc với tâm thấu suốt tâm.”
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “sakkā nu kho, bhante, imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ aparepi tayo puggalā sappaṭibhāgā paññāpetun”ti?
“Sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca: “idhāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti. Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni puthusilāya nikkhittāni. Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni aṅgārāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā pana, ānanda, sāyanhasamayaṁ sūriye ogacchante, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, āloko antaradhāyissati andhakāro pātubhavissatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā, panānanda, abhido addharattaṁ bhattakālasamaye, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, āloko antarahito andhakāro pātubhūto”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti. Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni sukkhe tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nikkhittāni. Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, imāni aṅgārāni vuḍḍhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, can you describe three other individuals who share a portion of these three?”
“I can, Ānanda,” said the Buddha. “Ānanda, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’ After some time I encompass their mind and understand: ‘The skillful qualities of this individual have vanished, but the unskillful qualities are still present. Nevertheless, their skillful root is unbroken, but it’s about to be totally destroyed. So this individual is still liable to decline in the future.’ Suppose there were some burning coals, blazing and glowing, placed on a broad rock. Wouldn’t you know that those coals would not grow, increase, and spread?”
“Yes, sir.”
“Or suppose it’s the late afternoon and the sun was going down. Wouldn’t you know that the light was about to vanish and darkness appear?”
“Yes, sir.”
“Or suppose that it’s nearly time for the midnight meal. Wouldn’t you know that the light had vanished and the darkness appeared?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand … This individual is still liable to decline in the future …
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’ After some time I encompass their mind and understand: ‘The unskillful qualities of this individual have vanished, but the skillful qualities are still present. Nevertheless, their unskillful root is unbroken, but it’s about to be totally destroyed. So this individual is not liable to decline in the future.’ Suppose there were some burning coals, blazing and glowing, placed on a pile of grass or timber. Wouldn’t you know that those coals would grow, increase, and spread?”
“Yes, sir.”
Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, ngoài ba hạng người này, có thể nào trình bày thêm ba hạng người tương đương khác được không?” “Này Ānanda, có thể được.” Đức Thế Tôn nói: “Này Ānanda, ở đây, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết được như sau: ‘Hạng người này hiện đang có các pháp thiện và các pháp bất thiện.’ Về sau, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của người ấy và biết được như sau: ‘Các pháp thiện của hạng người này đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi. Tuy nhiên, cội rễ thiện của người này vẫn chưa bị cắt đứt, nhưng nó cũng đang đi đến chỗ bị nhổ sạch hoàn toàn. Như vậy, trong tương lai, hạng người này sẽ là người có khuynh hướng suy thoái.’ Này Ānanda, ví như có những hòn than đang cháy đỏ, rực lửa, sáng ngời được đặt trên một tảng đá lớn. Này Ānanda, ngươi có biết rằng những hòn than này sẽ không tăng trưởng, phát triển, lan rộng hay không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Hoặc nữa, này Ānanda, ví như vào buổi chiều, khi mặt trời đang lặn, ngươi có biết rằng ánh sáng sẽ biến mất và bóng tối sẽ xuất hiện hay không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Hoặc nữa, này Ānanda, ví như vào lúc gần nửa đêm, vào giờ ăn, ngươi có biết rằng ánh sáng đã biến mất và bóng tối đã hiện hữu hay không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Cũng vậy, này Ānanda, ở đây, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết được như sau: ‘Hạng người này hiện đang có các pháp thiện và các pháp bất thiện.’ Về sau, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của người ấy và biết được như sau: ‘Các pháp thiện của hạng người này đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi. Tuy nhiên, cội rễ thiện của người này vẫn chưa bị cắt đứt, nhưng nó cũng đang đi đến chỗ bị nhổ sạch hoàn toàn. Như vậy, trong tương lai, hạng người này sẽ là người có khuynh hướng suy thoái.’ Này Ānanda, Như Lai đã biết rõ về hạng người này bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của họ. Này Ānanda, Như Lai đã biết rõ về trí tuệ thấu hiểu các căn của người khác bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của họ. Này Ānanda, Như Lai đã biết rõ về sự sanh khởi của các pháp trong tương lai bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của họ.
“Seyyathāpi vā panānanda, rattiyā paccūsasamayaṁ sūriye uggacchante, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, andhakāro antaradhāyissati, āloko pātubhavissatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā panānanda, abhido majjhanhike bhattakālasamaye, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, andhakāro antarahito āloko pātubhūto”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā. Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati. Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
“Or suppose it’s the crack of dawn and the sun is rising. Wouldn’t you know that the dark will vanish and the light appear?”
“Yes, sir.”
“Or suppose that it’s nearly time for the midday meal. Wouldn’t you know that the dark had vanished and the light appeared?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand … This individual is not liable to decline in the future …
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết được như sau: ‘Hạng người này hiện đang có các pháp thiện và các pháp bất thiện.’ Về sau, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của người ấy và biết được như sau: ‘Các pháp bất thiện của hạng người này đã biến mất, các pháp thiện đã hiện khởi. Tuy nhiên, cội rễ bất thiện của người này vẫn chưa bị cắt đứt, nhưng nó cũng đang đi đến chỗ bị nhổ sạch hoàn toàn. Như vậy, trong tương lai, hạng người này sẽ là người không có khuynh hướng suy thoái.’ Này Ānanda, ví như có những hòn than đang cháy đỏ, rực lửa, sáng ngời được đặt trên một đống cỏ khô hoặc một đống củi khô. Này Ānanda, ngươi có biết rằng những hòn than này sẽ tăng trưởng, phát triển, lan rộng hay không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Hoặc nữa, này Ānanda, ví như vào lúc rạng đông, khi mặt trời đang mọc, ngươi có biết rằng bóng tối sẽ biến mất và ánh sáng sẽ xuất hiện hay không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Hoặc nữa, này Ānanda, ví như vào lúc gần giữa trưa, vào giờ ăn, ngươi có biết rằng bóng tối đã biến mất và ánh sáng đã hiện hữu hay không?” “Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy.” “Cũng vậy, này Ānanda, ở đây, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của một hạng người nào đó và biết được như sau: ‘Hạng người này hiện đang có các pháp thiện và các pháp bất thiện.’ Về sau, Ta dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của người ấy và biết được như sau: ‘Các pháp bất thiện của hạng người này đã biến mất, các pháp thiện đã hiện khởi. Tuy nhiên, cội rễ bất thiện của người này vẫn chưa bị cắt đứt, nhưng nó cũng đang đi đến chỗ bị nhổ sạch hoàn toàn. Như vậy, trong tương lai, hạng người này sẽ là người không có khuynh hướng suy thoái.’ Này Ānanda, Như Lai đã biết rõ về hạng người này bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của họ. Này Ānanda, Như Lai đã biết rõ về trí tuệ thấu hiểu các căn của người khác bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của họ. Này Ānanda, Như Lai đã biết rõ về sự sanh khởi của các pháp trong tương lai bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của họ.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi akusalo dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantasukkehi anavajjehi dhammehi, diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī’ti. Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni sītāni nibbutāni sukkhe tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nikkhittāni. Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni aṅgārāni vuḍḍhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti. Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi: ‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi akusalo dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantasukkehi anavajjehi dhammehi, diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī’ti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti. Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand: ‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’ After some time I encompass their mind and understand: ‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of unskillful qualities. They have absolutely bright, blameless qualities. They will become extinguished in this very life.’ Suppose there were some cool, quenched coals, placed on a pile of grass or timber. Wouldn’t you know that those coals would not grow, increase, and spread?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand … ‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of unskillful qualities. They have absolutely bright, blameless qualities. They will become extinguished in this very life.’ This is how another individual is known to the Realized One by encompassing their mind. And this is how the Realized One knows a person’s faculties by encompassing their mind. And this is how the Realized One knows the future origination of a person’s qualities by encompassing their mind.
“Này Ānanda, lại nữa, ở đây Ta với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ một hạng người nào đó rằng: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu’. Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ vị ấy như vầy: ‘Vị này không có pháp bất thiện nào dù chỉ bằng đầu sợi lông, vị này đã thành tựu các pháp hoàn toàn trong sạch, không có tỳ vết, sẽ tịch diệt Niết-bàn ngay trong hiện tại’. Này Ānanda, ví như những cục than đã nguội lạnh, được đặt trong đống cỏ khô hay đống củi khô. Này Ānanda, ngươi có biết rằng những cục than này sẽ không tăng trưởng, phát triển, lan rộng ra không?”. “Bạch Thế Tôn, đúng vậy”. “Này Ānanda, cũng vậy, ở đây, Ta với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ một hạng người nào đó rằng: ‘Vị này quả thật có cả các pháp thiện và các pháp bất thiện đang hiện hữu’. Vào một thời điểm khác sau đó, Ta với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ vị ấy như vầy: ‘Vị này không có pháp bất thiện nào dù chỉ bằng đầu sợi lông, vị này đã thành tựu các pháp hoàn toàn trong sạch, không có tỳ vết, sẽ tịch diệt Niết-bàn ngay trong hiện tại’. Này Ānanda, như vậy Như Lai với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ về hạng người. Này Ānanda, như vậy Như Lai với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ về trí tuệ về các căn của người khác. Này Ānanda, như vậy Như Lai với tâm của mình, bao trùm tâm (của người khác), biết rõ về sự sanh khởi của các pháp trong tương lai.”
Tatrānanda, ye te purimā tayo puggalā tesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ eko aparihānadhammo, eko parihānadhammo, eko āpāyiko nerayiko. Tatrānanda, yeme pacchimā tayo puggalā imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ eko parihānadhammo, eko aparihānadhammo, eko parinibbānadhammo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
And so, Ānanda, of the first three individuals one is not liable to decline, one is liable to decline, and one is bound for a place of loss, hell. And of the second three individuals, one is liable to decline, one is not liable to decline, and one is bound to become extinguished.”
“Này Ānanda, trong số đó, về ba hạng người đầu tiên, trong ba hạng người ấy, một người có pháp không thoái chuyển, một người có pháp thoái chuyển, một người sẽ sanh vào cõi dữ, địa ngục. Này Ānanda, trong số đó, về ba hạng người sau, trong ba hạng người này, một người có pháp thoái chuyển, một người có pháp không thoái chuyển, một người có pháp tịch diệt Niết-bàn.” Tám.