- Aṅguttara Nikāya 6.32
- 4. Devatāvagga
Bản dịch
AN 6.32 — Không Thối Ðọa (1)
Paṭhamaaparihānasutta
TTC 1Rồi một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa. Thế nào là sáu? Kính trọng Ðạo Sư, kính trọng Pháp, kính trọng chúng Tăng, kính trọng học pháp, kính trọng không phóng dật, kính trọng tiếp đón. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa.
Thiên nhân ấy nói như vậy, Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên nhân ấy nghĩ rằng: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
TTC 2Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, gọi các Tỷ-kheo:
—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, có một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói với Ta: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa. Thế nào là sáu? Kính trọng Ðạo Sư, kính trọng Pháp, kính trọng chúng Tăng, kính trọng học pháp, kính trọng không phóng dật, kính trọng tiếp đón. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy. Nói như vậy xong, vị ấy đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
Tỷ-kheo kính Ðạo Sư,
Cung kính Pháp và Tăng,
Học pháp không phóng dật,
Cung kính nghinh tiếp đón,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.32
- 4. Deities
Non-decline (1st)
2. Kinh Không Thối Thất, kinh thứ nhất
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
32. Khi ấy, vào lúc đêm đã gần tàn, một vị thiên nhân với dung sắc thù thắng, sau khi làm cho toàn thể khu vườn Jetavana bừng sáng, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, vị thiên nhân ấy bạch với Thế Tôn rằng:
“Chayime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti. Katame cha? Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, appamādagāravatā, paṭisanthāragāravatā—ime kho, bhante, cha dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī”ti.
Idamavoca sā devatā. Samanuñño satthā ahosi. Atha kho sā devatā “samanuñño me satthā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
“Sir, these six things don’t lead to the decline of a mendicant. What six? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for diligence, and for hospitality. These six things don’t lead to the decline of a mendicant.”
That is what that deity said, and the Teacher concurred. Then that deity, knowing that the Teacher concurred, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
“Bạch Thế Tôn, có sáu pháp này đưa đến sự không thối thất cho vị Tỳ khưu. Sáu pháp nào? Tôn kính Bậc Đạo Sư, tôn kính Giáo Pháp, tôn kính Tăng chúng, tôn kính học giới, tôn kính sự không dể duôi, tôn kính sự tiếp đãi. Bạch Thế Tôn, chính sáu pháp này đưa đến sự không thối thất cho vị Tỳ khưu.” Vị thiên nhân ấy đã nói như vậy. Bậc Đạo Sư đã chấp thuận. Khi ấy, vị thiên nhân ấy, biết rằng: “Bậc Đạo Sư đã chấp thuận lời của ta,” liền đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi: “imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, sā devatā maṁ etadavoca: ‘chayime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti. Katame cha? Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, appamādagāravatā, paṭisanthāragāravatā—ime kho, bhante, cha dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.
Idamavoca, bhikkhave, sā devatā. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened, adding:
Khi ấy, sau khi đêm ấy đã qua, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, đêm nay, một vị thiên nhân, vào lúc đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, sau khi làm cho toàn thể khu vườn Jetavana bừng sáng, đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ ta rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, này các Tỳ khưu, vị thiên nhân ấy đã bạch với ta rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có sáu pháp này đưa đến sự không thối thất cho vị Tỳ khưu. Sáu pháp nào? Tôn kính Bậc Đạo Sư, tôn kính Giáo Pháp, tôn kính Tăng chúng, tôn kính học giới, tôn kính sự không dể duôi, tôn kính sự tiếp đãi. Bạch Thế Tôn, chính sáu pháp này đưa đến sự không thối thất cho vị Tỳ khưu.’ Này các Tỳ khưu, vị thiên nhân ấy đã nói như vậy. Sau khi nói xong, vị ấy đảnh lễ ta, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ.”
Satthugaru dhammagaru, saṅghe ca tibbagāravo; Appamādagaru bhikkhu, paṭisanthāragāravo; Abhabbo parihānāya, nibbānasseva santike”ti.
Dutiyaṁ.
“Respect for the Teacher and the teaching, and keen respect for the Saṅgha; a mendicant who respects diligence and hospitality can’t decline, and has drawn near to extinguishment.”
“Vị Tỳ khưu tôn kính Bậc Đạo Sư, tôn kính Giáo Pháp, và có lòng tôn kính mãnh liệt đối với Tăng chúng; vị Tỳ khưu tôn kính sự không dể duôi, tôn kính sự tiếp đãi; thì không thể bị thối thất, vị ấy ở ngay gần bên Niết Bàn.” (Kinh) thứ hai.