- Aṅguttara Nikāya 6.33
- 4. Devatāvagga
Bản dịch
AN 6.33 — Không Thối Ðọa (2)
Dutiyaaparihānasutta
TTC 1—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jatavana, đi đến Ta; sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Có sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa. Thế nào là sáu? Kính trọng Ðạo Sư, kính trọng Pháp, kính trọng chúng Tăng, kính trọng học pháp, kính trọng hổ thẹn, kính trọng sợ hãi. Sáu pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến thối đọa”. Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy. Nói như vậy xong, vị ấy đảnh lễ Ta, thân bên hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
Cung kính bậc Ðạo Sư,
Cung kính lớn Pháp Tăng,
Ðầy đủ tàm và quý
Kính nhường và cung kính,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.33
- 4. Deities
Non-decline (2nd)
3. Kinh Không Thối Thất, kinh thứ hai
“Imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, sā devatā maṁ etadavoca: ‘chayime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti. Katame cha? Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, hirigāravatā, ottappagāravatā—ime kho, bhante, cha dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.
Idamavoca, bhikkhave, sā devatā. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
“Tonight, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and said to me: ‘Sir, these six things don’t lead to the decline of a mendicant. What six? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for conscience, and for prudence. These six things don’t lead to the decline of a mendicant.’
That is what that deity said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.
33. “Này các Tỳ khưu, đêm nay, một vị thiên nhân, vào lúc đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, sau khi làm cho toàn thể khu vườn Jetavana bừng sáng, đã đi đến chỗ ta; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ ta rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, này các Tỳ khưu, vị thiên nhân ấy đã bạch với ta rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có sáu pháp này đưa đến sự không thối thất cho vị Tỳ khưu. Sáu pháp nào? Tôn kính Bậc Đạo Sư, tôn kính Giáo Pháp, tôn kính Tăng chúng, tôn kính học giới, tôn kính sự hổ thẹn, tôn kính sự ghê sợ. Bạch Thế Tôn, chính sáu pháp này đưa đến sự không thối thất cho vị Tỳ khưu.’ Này các Tỳ khưu, vị thiên nhân ấy đã nói như vậy. Sau khi nói xong, vị ấy đảnh lễ ta, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ.”
Satthugaru dhammagaru, saṅghe ca tibbagāravo; Hiriottappasampanno, sappatisso sagāravo; Abhabbo parihānāya, nibbānasseva santike”ti.
Tatiyaṁ.
One respectful of the Teacher and the teaching, keenly respecting the Saṅgha; endowed with conscience and prudence, reverential and respectful—it is impossible for them to decline; they have drawn near to extinguishment.”
“Vị Tỳ khưu tôn kính Bậc Đạo Sư, tôn kính Giáo Pháp, và có lòng tôn kính mãnh liệt đối với Tăng chúng; vị ấy đầy đủ hổ thẹn và ghê sợ, biết vâng lời, có lòng tôn trọng; thì không thể bị thối thất, vị ấy ở ngay gần bên Niết Bàn.” (Kinh) thứ ba.