- Aṅguttara Nikāya 5.79
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.79 — Sợ Hãi Trong Tương Lai (3)
Tatiyaanāgatabhayasutta
TTC 1—Có năm sợ hãi về tương lai này, này các Tỷ-kheo, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng, sau khi rõ biết, cần phải tinh tấn đoạn trừ chúng. Thế nào là năm?
TTC 2Này các Tỷ-kheo, sẽ có những vị Tỷ-kheo trong tương lai, thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, nếu họ thọ đại giới cho các người khác, họ sẽ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. Các người ấy sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, họ sẽ thọ đại giới cho các người khác, họ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. Các người ấy sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ nhất về tương lai, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai; các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn trừ chúng.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, họ làm y chỉ sư cho các người khác. Họ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. những người ấy sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Các người ấy, do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, lại làm y chỉ sư cho những người khác, họ không có thể huấn luyện trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do Pháp ô nhiễm, nên Luật bị ô nhiễm. Do Luật ô nhiễm, nên Pháp bị ô nhiễm.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự sợ hãi thứ hai về tương lai, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn trừ chúng.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ trở thành những người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, khi họ thuyết về Thắng pháp hay về Quảng thuyết (Trí giải luận), họ rơi vào hắc pháp, không có thể giác ngộ rõ ràng. Này các Tỷ-kheo, đây là do ô nhiễm Pháp, nên sanh ô nhiễm Luật; do ô nhiễm Luật, nên sanh ô nhiễm Pháp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ ba về tương lai, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận chúng.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sẽ có những Tỷ-kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, đối với các kinh tạng do Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa sâu kín, siêu thế, liên hệ đến không, khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ không có nghe, họ không có lắng tai, họ không an trú tâm liễu giải, họ không nghĩ rằng các kinh ấy cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng. Còn những kinh điển do các thi sĩ làm, những bài thi, với những chữ văn hoa, với những câu văn hoa, thuộc ngoại điển do các đệ tử thuyết, trong khi các kinh ấy được thuyết giảng, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ lóng tai, họ an trú tâm liễu giải. Các pháp ấy, họ sẽ nghĩ cần phải học tập, cần phải học thuộc lòng. Này các Tỷ-kheo, đây là do Pháp ô nhiễm, nên Luật ô nhiễm; do Luật ô nhiễm, nên Pháp ô nhiễm.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ tư về tương lai, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận sợ hãi ấy.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sẽ có những Tỷ-kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập. Do thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập nên các trưởng lão Tỷ-kheo sẽ sống đầy đủ, biếng nhác dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ đi theo tà kiến của họ. Họ sẽ trở thành những người sống đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu trong thối đọa, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, sẽ không hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do nhiễm ô về Pháp, đưa đến nhiễm ô về Luật; do nhiễm ô về Luật, đưa đến nhiễm ô về Pháp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ năm về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn tận sự sợ hãi ấy.
Này các Tỷ-kheo, năm sợ hãi về tương lai này, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sự sợ hãi ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.79
- 8. Warriors
Future Perils (3rd)
9. Kinh Về Các Mối Nguy Hiểm Vị Lai (Thứ Ba)
“Pañcimāni, bhikkhave, anāgatabhayāni etarahi asamuppannāni āyatiṁ samuppajjissanti. Tāni vo paṭibujjhitabbāni;
“Mendicants, these five future perils have not currently arisen, but they will arise in the future. You should look out for them
79. Này các tỳ khưu, có năm mối nguy hiểm vị lai này, hiện tại chưa phát sanh, nhưng sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết chúng; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ chúng.
80. Này các Tỳ khưu, có năm mối nguy hiểm trong tương lai này, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Các ngươi cần phải nhận biết chúng; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ chúng.
Katamāni pañca? Bhavissanti, bhikkhave, bhikkhū anāgatamaddhānaṁ abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Te abhāvitakāyā samānā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā aññe upasampādessanti. Tepi na sakkhissanti vinetuṁ adhisīle adhicitte adhipaññāya. Tepi bhavissanti abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Te abhāvitakāyā samānā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā aññe upasampādessanti. Tepi na sakkhissanti vinetuṁ adhisīle adhicitte adhipaññāya. Tepi bhavissanti abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Iti kho, bhikkhave, dhammasandosā vinayasandoso; vinayasandosā dhammasandoso. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
What five? In a future time there will be mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. They will ordain others, but be unable to guide them in the higher ethics, mind, and wisdom. They too will not develop their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. They too will ordain others, but be unable to guide them in the higher ethics, mind, and wisdom. They too will not develop their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. And that is how corrupt training comes from corrupt teachings, and corrupt teachings come from corrupt training. This is the first future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Năm điều ấy là gì? Này các Tỳ khưu, trong thời vị lai, sẽ có các vị Tỳ khưu ưa thích y phục tốt đẹp. Do ưa thích y phục tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ hạnh mặc y phấn tảo, sẽ từ bỏ các trú xứ xa xôi trong rừng núi; họ sẽ đi vào các làng mạc, thị trấn, kinh đô để cư ngụ, và vì y phục, họ sẽ rơi vào nhiều cách tìm cầu không chân chánh, không thích hợp. Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ nhất trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Điều ấy các ngươi cần phải nhận biết; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Te abhāvitakāyā samānā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā aññesaṁ nissayaṁ dassanti. Tepi na sakkhissanti vinetuṁ adhisīle adhicitte adhipaññāya. Tepi bhavissanti abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. They will give dependence to others, but be unable to guide them in the higher ethics, mind, and wisdom. They too will not develop their physical endurance, ethics, mind, and wisdom.
Này các tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai sẽ có các vị tỳ khưu ưa thích vật thực khất thực ngon. Do ưa thích vật thực khất thực ngon, các vị ấy sẽ từ bỏ hạnh đầu đà khất thực, sẽ từ bỏ các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, hẻo lánh; sẽ đi vào làng mạc, thị trấn, kinh đô để cư ngụ, tìm kiếm các vị ngon thượng hạng bằng đầu lưỡi, và vì vật thực khất thực, các vị ấy sẽ rơi vào nhiều cách tìm cầu không thích hợp, không xứng đáng. Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ hai, hiện chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết điều ấy; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ nó.
Năm điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, trong tương lai sẽ có những vị tỳ khưu không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Chính họ, trong khi không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, lại truyền cụ túc giới cho người khác. Những vị này cũng sẽ không thể huấn luyện (đệ tử) về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Những vị (đệ tử) ấy cũng sẽ trở thành người không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Chính họ, trong khi không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, lại truyền cụ túc giới cho người khác. Những vị này cũng sẽ không thể huấn luyện (đệ tử) về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Những vị (đệ tử) ấy cũng sẽ trở thành người không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Này các tỳ khưu, như vậy, do sự băng hoại của Pháp mà có sự băng hoại của Luật; do sự băng hoại của Luật mà có sự băng hoại của Pháp. Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ nhất, hiện tại chưa phát sanh, nhưng sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết nó; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ nó.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai, sẽ có các vị Tỳ khưu không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Do không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, các vị ấy sẽ trao sự nương tựa cho người khác. Các vị ấy cũng sẽ không có khả năng huấn luyện về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Các vị (đệ tử) kia cũng sẽ trở thành người không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Do không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, các vị ấy sẽ trao sự nương tựa cho người khác. Các vị ấy cũng sẽ không có khả năng huấn luyện về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Các vị (đệ tử) kia cũng sẽ trở thành người không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Này các Tỳ khưu, như vậy, do sự băng hoại của Pháp nên có sự băng hoại của Luật; do sự băng hoại của Luật nên có sự băng hoại của Pháp. Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ hai trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Điều ấy các ngươi cần phải nhận biết; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Te abhāvitakāyā samānā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā abhidhammakathaṁ vedallakathaṁ kathentā kaṇhadhammaṁ okkamamānā na bujjhissanti. Iti kho, bhikkhave, dhammasandosā vinayasandoso; vinayasandosā dhammasandoso. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. In discussion about the teachings and elaborations they’ll fall into dark ideas without realizing it. And that is how corrupt training comes from corrupt teachings, and corrupt teachings come from corrupt training. This is the third future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai, sẽ có các vị Tỳ khưu không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Do không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, trong khi nói về những lời thuyết giảng thuộc Vi Diệu Pháp (abhidhammakatha) và những lời thuyết giảng thuộc thể loại Vấn Đáp (vedallakatha), họ sẽ đi vào pháp đen tối (bất thiện) và sẽ không liễu tri. Này các Tỳ khưu, như vậy, do sự băng hoại của Pháp nên có sự băng hoại của Luật; do sự băng hoại của Luật nên có sự băng hoại của Pháp. Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ ba trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Điều ấy các ngươi cần phải nhận biết; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Te abhāvitakāyā samānā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatāppaṭisaṁyuttā, tesu bhaññamānesu na sussūsissanti, na sotaṁ odahissanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapessanti, na ca te dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissanti. Ye pana te suttantā kavitā kāveyyā cittakkharā cittabyañjanā bāhirakā sāvakabhāsitā, tesu bhaññamānesu sussūsissanti, sotaṁ odahissanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapessanti, te ca dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissanti. Iti kho, bhikkhave, dhammasandosā vinayasandoso; vinayasandosā dhammasandoso. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. When discourses spoken by the Realized One—deep, profound, transcendent, dealing with emptiness—are being recited they won’t want to listen. They won’t actively listen or try to understand, nor will they think those teachings are worth learning and memorizing. But when discourses composed by poets—poetry, with fancy words and phrases, composed by outsiders or spoken by disciples—are being recited they will want to listen. They’ll actively listen and try to understand, and they’ll think those teachings are worth learning and memorizing. And that is how corrupt training comes from corrupt teachings, and corrupt teachings come from corrupt training. This is the fourth future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai, sẽ có các vị Tỳ khưu không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Do không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, khi các kinh điển do Như Lai thuyết giảng, sâu sắc, ý nghĩa sâu sắc, siêu thế, tương ưng với tánh không được tụng đọc, họ sẽ không muốn lắng nghe, không lắng tai nghe, không an trú tâm để hiểu biết, và sẽ không nghĩ rằng những pháp ấy cần phải học thuộc và ghi nhớ. Trái lại, khi các kinh điển do các thi sĩ sáng tác, thi vị, văn chương hoa mỹ, từ ngữ bóng bẩy, ở ngoài giáo pháp, do các đệ tử ngoại đạo thuyết giảng được tụng đọc, họ sẽ muốn lắng nghe, sẽ lắng tai nghe, sẽ an trú tâm để hiểu biết, và sẽ nghĩ rằng những pháp ấy cần phải học thuộc và ghi nhớ. Này các Tỳ khưu, như vậy, do sự băng hoại của Pháp nên có sự băng hoại của Luật; do sự băng hoại của Luật nên có sự băng hoại của Pháp. Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ tư trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Điều ấy các ngươi cần phải nhận biết; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ abhāvitakāyā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā. Te abhāvitakāyā samānā abhāvitasīlā abhāvitacittā abhāvitapaññā therā bhikkhū bāhulikā bhavissanti sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā, na vīriyaṁ ārabhissanti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Tesaṁ pacchimā janatā diṭṭhānugatiṁ āpajjissati. Sāpi bhavissati bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā, na vīriyaṁ ārabhissati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Iti kho, bhikkhave, dhammasandosā vinayasandoso; vinayasandosā dhammasandoso. Idaṁ, bhikkhave, pañcamaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, pañca anāgatabhayāni etarahi asamuppannāni āyatiṁ samuppajjissanti. Tāni vo paṭibujjhitabbāni; paṭibujjhitvā ca tesaṁ pahānāya vāyamitabban”ti.
Navamaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who have not developed their physical endurance, ethics, mind, and wisdom. The senior mendicants will be indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, not rousing energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. Those who come after them will follow their example. They too will become indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, not rousing energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. And that is how corrupt training comes from corrupt teachings, and corrupt teachings come from corrupt training. This is the fifth future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
These are the five future perils that have not currently arisen, but will arise in the future. You should look out for them, and try to give them up.”
Này các Tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai, sẽ có các vị Tỳ khưu không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ. Do không tu tập về thân, không tu tập về giới, không tu tập về tâm, không tu tập về tuệ, các vị Tỳ khưu trưởng lão sẽ trở nên sống trong sự sung túc, sống buông thả, đi tiên phong trong việc thoái đọa, từ bỏ gánh nặng về sự ẩn dật, sẽ không khởi sự tinh tấn để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để thành tựu điều chưa thành tựu, để giác ngộ điều chưa giác ngộ. Thế hệ sau của họ sẽ đi theo tấm gương đã thấy. Thế hệ ấy cũng sẽ trở nên sống trong sự sung túc, sống buông thả, đi tiên phong trong việc thoái đọa, từ bỏ gánh nặng về sự ẩn dật, sẽ không khởi sự tinh tấn để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để thành tựu điều chưa thành tựu, để giác ngộ điều chưa giác ngộ. Này các Tỳ khưu, như vậy, do sự băng hoại của Pháp nên có sự băng hoại của Luật; do sự băng hoại của Luật nên có sự băng hoại của Pháp. Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ năm trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Điều ấy các ngươi cần phải nhận biết; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ nó. Này các Tỳ khưu, đây là năm mối nguy hiểm trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Các ngươi cần phải nhận biết chúng; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ chúng.