- Aṅguttara Nikāya 5.80
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.80 — Sự Sợ Hãi Trong Tương Lai (4)
Catutthaanāgatabhayasutta
TTC 1—Có năm sợ hãi về tương lai này, hiện chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn các y tốt đẹp. Do họ tham muốn các y tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ các y nhặt nơi đống rác, họ sẽ từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng, họ sẽ đi đến các làng, thị trấn, kinh đô vua chúa và sống tại các chỗ ấy. Vì nhân y áo, họ sẽ rơi vào những hành vi tầm cầu không thích hợp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ nhất về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành. Do họ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành, họ sẽ từ bỏ nếp sống khất thực, từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy, tìm cầu các món ăn thượng vị, như với đầu lưỡi. Do nhân đồ ăn khất thực, họ sẽ rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ hai về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn sàng tọa tốt đẹp. Do họ tham muốn các sàng tọa tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ nếp sống dưới gốc cây, họ sẽ từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy. Vì nhân sàng tọa, họ sẽ rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ ba về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sẽ có những Tỷ-kheo trong tương lai sẽ sống liên hệ với Tỷ-kheo-ni, các chánh học nữ, các Sa-di-ni. Khi sống liên hệ với Tỷ-kheo-ni, chánh học nữ, Sa-di-ni, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là: Họ sẽ không thích thú sống Phạm hạnh, hay họ sẽ rơi vào một trong những tội lỗi ô nhiễm, sẽ từ bỏ học pháp và trở lui lại đời sống thế tục.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ tư về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ sợ hãi ấy.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sẽ có những Tỷ-kheo trong tương lai sống liên hệ với các người có hệ lụy đến khu vườn, với các Sa-di. Khi sống liên hệ với các người có hệ lụy đến khu vườn và với các Sa-di, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi là họ sẽ sống và tận hưởng các vật liệu cất chứa, và họ sẽ làm các thô tướng đối với đất đai và đối với các sản phẩm trồng trọt.
Này các Tỷ-kheo, đây là sợ hãi thứ năm về tương lai, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận sự sợ hãi ấy.
Năm sự sợ hãi về tương lai này, này các Tỷ-kheo, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.80
- 8. Warriors
Future Perils (4th)
10. Kinh Về Các Mối Nguy Hiểm Trong Tương Lai, phần thứ tư.
“Pañcimāni, bhikkhave, anāgatabhayāni etarahi asamuppannāni āyatiṁ samuppajjissanti. Tāni vo paṭibujjhitabbāni; paṭibujjhitvā ca tesaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
“Mendicants, these five future perils have not currently arisen, but they will arise in the future. You should look out for them and try to give them up.
80. Này các Tỳ khưu, có năm mối nguy hiểm trong tương lai này, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Các ngươi cần phải nhận biết chúng; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ chúng.
Katamāni pañca? Bhavissanti, bhikkhave, bhikkhū anāgatamaddhānaṁ cīvare kalyāṇakāmā. Te cīvare kalyāṇakāmā samānā riñcissanti paṁsukūlikattaṁ, riñcissanti araññavanapatthāni pantāni senāsanāni; gāmanigamarājadhānīsu osaritvā vāsaṁ kappessanti, cīvarahetu ca anekavihitaṁ anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjissanti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
What five? In a future time there will be mendicants who like nice robes. They will neglect the practice of wearing rag robes and the practice of frequenting remote lodgings in the wilderness and the forest. They will come down to the villages, towns, and capital cities and make their homes there. And they will employ many kinds of improper solicitation for the sake of a robe. This is the first future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Năm điều ấy là gì? Này các Tỳ khưu, trong thời vị lai, sẽ có các vị Tỳ khưu ưa thích y phục tốt đẹp. Do ưa thích y phục tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ hạnh mặc y phấn tảo, sẽ từ bỏ các trú xứ xa xôi trong rừng núi; họ sẽ đi vào các làng mạc, thị trấn, kinh đô để cư ngụ, và vì y phục, họ sẽ rơi vào nhiều cách tìm cầu không chân chánh, không thích hợp. Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ nhất trong tương lai, hiện tại chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong thời vị lai. Điều ấy các ngươi cần phải nhận biết; và sau khi đã nhận biết, cần phải tinh tấn để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ piṇḍapāte kalyāṇakāmā. Te piṇḍapāte kalyāṇakāmā samānā riñcissanti piṇḍapātikattaṁ, riñcissanti araññavanapatthāni pantāni senāsanāni; gāmanigamarājadhānīsu osaritvā vāsaṁ kappessanti jivhaggena rasaggāni pariyesamānā, piṇḍapātahetu ca anekavihitaṁ anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjissanti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who like nice almsfood. They will neglect the practice of walking for almsfood and the practice of frequenting remote lodgings in the wilderness and the forest. They will come down to the villages, towns, and capital cities and make their home there. And they will employ many kinds of improper solicitation for the sake of almsfood. This is the second future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Này các tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai sẽ có các vị tỳ khưu ưa thích vật thực khất thực ngon. Do ưa thích vật thực khất thực ngon, các vị ấy sẽ từ bỏ hạnh đầu đà khất thực, sẽ từ bỏ các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, hẻo lánh; sẽ đi vào làng mạc, thị trấn, kinh đô để cư ngụ, tìm kiếm các vị ngon thượng hạng bằng đầu lưỡi, và vì vật thực khất thực, các vị ấy sẽ rơi vào nhiều cách tìm cầu không thích hợp, không xứng đáng. Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ hai, hiện chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết điều ấy; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ senāsane kalyāṇakāmā. Te senāsane kalyāṇakāmā samānā riñcissanti rukkhamūlikattaṁ, riñcissanti araññavanapatthāni pantāni senāsanāni; gāmanigamarājadhānīsu osaritvā vāsaṁ kappessanti, senāsanahetu ca anekavihitaṁ anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjissanti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who like nice lodgings. They will neglect the practice of staying at the root of a tree and the practice of frequenting remote lodgings in the wilderness and the forest. They will come down to the villages, towns, and capital cities and make their home there. And they will employ many kinds of improper solicitation for the sake of lodgings. This is the third future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Này các tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai sẽ có các vị tỳ khưu ưa thích trú xứ tốt. Do ưa thích trú xứ tốt, các vị ấy sẽ từ bỏ hạnh đầu đà ở gốc cây, sẽ từ bỏ các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, hẻo lánh; sẽ đi vào làng mạc, thị trấn, kinh đô để cư ngụ, và vì trú xứ, các vị ấy sẽ rơi vào nhiều cách tìm cầu không thích hợp, không xứng đáng. Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ ba, hiện chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết điều ấy; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ bhikkhunīsikkhamānāsamaṇuddesehi saṁsaṭṭhā viharissanti. Bhikkhunīsikkhamānāsamaṇuddesehi saṁsagge kho pana, bhikkhave, sati etaṁ pāṭikaṅkhaṁ: ‘anabhiratā vā brahmacariyaṁ carissanti, aññataraṁ vā saṅkiliṭṭhaṁ āpattiṁ āpajjissanti, sikkhaṁ vā paccakkhāya hīnāyāvattissanti’. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who mix closely with nuns, trainee nuns, and novice nuns. In such conditions, it can be expected that they will lead the spiritual life dissatisfied, or commit one of the corrupt offenses, or resign the training and return to a lesser life. This is the fourth future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Này các tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai sẽ có các vị tỳ khưu sống giao du với các tỳ khưu ni, các học nữ, và các sa di. Này các tỳ khưu, khi có sự giao du với các tỳ khưu ni, các học nữ, và các sa di, điều này có thể được mong đợi: các vị ấy sẽ không hoan hỷ thực hành phạm hạnh, hoặc sẽ phạm vào một tội lỗi ô uế nào đó, hoặc sẽ từ bỏ học giới và hoàn tục. Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ tư, hiện chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết điều ấy; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ nó.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ ārāmikasamaṇuddesehi saṁsaṭṭhā viharissanti. Ārāmikasamaṇuddesehi saṁsagge kho pana, bhikkhave, sati etaṁ pāṭikaṅkhaṁ: ‘anekavihitaṁ sannidhikāraparibhogaṁ anuyuttā viharissanti, oḷārikampi nimittaṁ karissanti, pathaviyāpi haritaggepi’. Idaṁ, bhikkhave, pañcamaṁ anāgatabhayaṁ etarahi asamuppannaṁ āyatiṁ samuppajjissati. Taṁ vo paṭibujjhitabbaṁ; paṭibujjhitvā ca tassa pahānāya vāyamitabbaṁ.
Furthermore, in a future time there will be mendicants who mix closely with monastery attendants and novices. In such conditions it can be expected that they will engage in storing up goods for their own use, and making obvious hints about digging the earth and cutting plants. This is the fifth future peril that has not currently arisen, but will arise in the future …
Này các tỳ khưu, lại nữa, trong thời vị lai sẽ có các vị tỳ khưu sống giao du với các sa di giữ vườn. Này các tỳ khưu, khi có sự giao du với các sa di giữ vườn, điều này có thể được mong đợi: các vị ấy sẽ sống chuyên tâm vào việc thọ dụng nhiều loại vật đã được cất giữ, và sẽ làm những dấu hiệu thô thiển trên đất và trên cây cỏ xanh tươi. Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ năm, hiện chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết điều ấy; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ nó.
Imāni kho, bhikkhave, pañca anāgatabhayāni etarahi asamuppannāni āyatiṁ samuppajjissanti. Tāni vo paṭibujjhitabbāni; paṭibujjhitvā ca tesaṁ pahānāya vāyamitabban”ti.
Dasamaṁ.
These are the five future perils that have not currently arisen, but will arise in the future. You should look out for them and try to give them up.”
Này các tỳ khưu, đây là năm mối nguy hiểm vị lai, hiện chưa phát sanh, sẽ phát sanh trong tương lai. Các ngươi phải nhận biết chúng; và sau khi nhận biết, phải cố gắng để loại trừ chúng. (Kinh thứ mười).
Yodhājīvavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Yodhājīva, thứ ba.
Dve cetovimuttiphalā, dve ca dhammavihārino; Yodhājīvā ca dve vuttā, cattāro ca anāgatāti.
Hai kinh về quả của tâm giải thoát, hai kinh về người sống theo pháp; hai kinh được nói về chiến sĩ, và bốn kinh về những điều vị lai.