- Aṅguttara Nikāya 5.78
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.78 — Sợ Hãi Trong Tương Lai (2)
Dutiyaanāgatabhayasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, do quán thấy năm sự sợ hãi về tương lai này, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như sau: “Nay ta còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong buổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời. Nhưng rồi đến thời già sẽ xúc chạm thân này. Khi đã già yếu, và bị già chinh phục, thật không dễ gì để tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, thật không dễ gì để sống tại các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Trước khi trạng thái ấy đến với ta, không đáng ưa, không đáng thích, không khả ý, ta hãy hăng hái tinh cần trước khi thời ấy đến, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và nếu thành tựu trạng thái ấy, có bị già, ta sẽ sống được thoải mái”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ nhất này về tương lai, như vậy là vừa đủ để Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát như sau: “Nay ta ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn, nhưng rồi đến thời bệnh sẽ xúc chạm thân này. Khi đã bị bệnh và bị bệnh chinh phục, thật không dễ gì tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, thật không dễ gì để sống tại các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Trước khi trạng thái ấy đến với ta, không đáng ưa, không đáng thích, không khả ý, ta hãy hăng hái tinh cần trước khi thời ấy đến, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và nếu thành tựu trạng thái ấy, dầu có bị bệnh, ta sẽ sống được thoải mái”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ hai này về tương lai, như vậy là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát như sau: “Nay không có đói kém, được mùa, đồ ăn khất thực dễ kiếm được, thật dễ dàng để nuôi sống bằng khất thực nỗ lực. Nhưng rồi đến thời có nạn đói, mất mùa, đồ ăn khất thực nỗ lực được, không dễ gì nuôi sống bằng khất thực nỗ lực. Và những người bị nạn đói sẽ dời đến chỗ nào được nhiều đồ ăn; tại đấy, phải sống với quần chúng, phải sống với hỗn tạp. Khi phải sống với quần chúng, phải sống với hỗn tạp, thật không dễ gì để tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, thật không dễ gì để sống tại các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Trước khi trạng thái ấy đến với ta, không đáng ưa, không đáng thích, không khả ý, ta hãy hăng hái tinh cần trước khi thời ấy đến, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và nếu thành tựu trạng thái ấy, có bị đói kém, ta sẽ sống được thoải mái”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ ba này về tương lai, như vậy là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như sau: “Nay các loài Người sống với nhau thuận hòa, hoan hỷ với nhau, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Nhưng rồi đến thời có sự sợ hãi về nạn cướp rừng, dân chúng trong nước leo lên xe để đi trốn tại nơi nào có sự sợ hãi, dân chúng di động đến chỗ có sự an ổn. Tại đấy, phải sống với quần chúng, phải sống với hỗn tạp, thật không dễ với quần chúng, sống với hỗn tạp, thật không dễ gì để tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, thật không dễ gì để sống tại các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng.. Trước khi trạng thái ấy đến với ta, không đáng ưa, không đáng thích, không khả ý, ta phải hăng hái tinh cần trước khi thời ấy đến để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và nếu thành tựu trạng thái ấy, có gặp sự sợ hãi, ta sẽ sống được thoải mái”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ tư này về tương lai, như vậy là vừa đủ để Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như sau: “ Nay chúng Tăng hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh luận nhau, sống thoải mái cùng chung một lời dạy… nhưng rồi đến thời chúng Tăng chia rẽ. Khi chúng Tăng chia rẽ, thật không dễ gì để tác ý đến giáo pháp của các đức Phật. Thật không dễ gì để sống tại các trú xứ rừng núi, cao nguyên xa vắng. Trước khi trạng thái ấy đến với ta, không đáng ưa, không đáng thích, không khả ý, ta hãy hăng hái tinh cần trước khi thời ấy đến, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và nếu thành tựu trạng thái ấy, chúng Tăng có chia rẽ, ta sẽ sống được thoải mái”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ năm này về tương lai, như vậy là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy năm sợ hãi này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.78
- 8. Warriors
Future Perils (2nd)
8. Bài kinh thứ hai về các Mối Nguy Hiểm Vị Lai
“Pañcimāni, bhikkhave, anāgatabhayāni sampassamānena alameva bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Katamāni pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi daharo yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā. Hoti kho pana so samayo yaṁ imaṁ kāyaṁ jarā phusati. Jiṇṇena kho pana jarāya abhibhūtena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, na sukarāni araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevituṁ. Purā maṁ so dhammo āgacchati aniṭṭho akanto amanāpo; handāhaṁ paṭikacceva vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya, yenāhaṁ dhammena samannāgato jiṇṇakopi phāsuṁ viharissāmī’ti.
“Mendicants, seeing these five future perils is quite enough for a mendicant to meditate diligently, keenly, and resolutely for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. What five?
A mendicant reflects: ‘Currently I’m a youth, young, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life. But there will come a time when this body is struck with old age. When you’re old, overcome by old age, it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas, and it’s not easy to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. Before that unlikable, undesirable, and disagreeable thing happens, I’d better preempt it by rousing up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. That way, when it happens, I’ll live comfortably even though I’m old.’
78. Này các Tỳ khưu, có năm mối nguy hiểm vị lai này. Khi thấy rõ chúng, vị Tỳ khưu cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng. Năm điều ấy là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Hiện nay, ta còn trẻ, thanh niên, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, đang trong giai đoạn đầu của cuộc đời. Rồi sẽ có lúc tuổi già chạm đến thân này. Khi bị tuổi già chinh phục, thật không dễ để tác ý đến giáo pháp của các vị Phật, không dễ để lui về các trú xứ xa xôi, nơi rừng núi hoang vắng. Trước khi pháp không mong muốn, không đáng yêu, không vừa ý ấy đến với ta, vậy thì, ta hãy tinh tấn ngay từ bây giờ để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng, để khi đã được trang bị pháp ấy, dù già yếu ta vẫn có thể sống an lạc.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ nhất. Khi thấy rõ điều này, vị Tỳ khưu cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi appābādho appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya. Hoti kho pana so samayo yaṁ imaṁ kāyaṁ byādhi phusati. Byādhitena kho pana byādhinā abhibhūtena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, na sukarāni araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevituṁ. Purā maṁ so dhammo āgacchati aniṭṭho akanto amanāpo; handāhaṁ paṭikacceva vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya, yenāhaṁ dhammena samannāgato byādhitopi phāsuṁ viharissāmī’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a mendicant reflects: ‘Currently, I’m rarely ill or unwell. My stomach digests well, being neither too hot nor too cold, but just right, and fit for meditation. But there will come a time when this body is struck with sickness. When you’re sick, overcome by sickness, it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas, and it’s not easy to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. Before that unlikable, undesirable, and disagreeable thing happens, I’d better preempt it by rousing up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. That way, when it happens, I’ll live comfortably even though I’m sick.’ This is the second future peril …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Hiện nay, ta ít bệnh, ít khổ, có hệ tiêu hóa quân bình, không quá lạnh, không quá nóng, ở mức trung bình, thích hợp cho việc tinh tấn. Rồi sẽ có lúc bệnh tật chạm đến thân này. Khi bị bệnh tật chinh phục, thật không dễ để tác ý đến giáo pháp của các vị Phật, không dễ để lui về các trú xứ xa xôi, nơi rừng núi hoang vắng. Trước khi pháp không mong muốn, không đáng yêu, không vừa ý ấy đến với ta, vậy thì, ta hãy tinh tấn ngay từ bây giờ để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng, để khi đã được trang bị pháp ấy, dù bệnh hoạn ta vẫn có thể sống an lạc.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ hai. Khi thấy rõ điều này, vị Tỳ khưu cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘etarahi kho subhikkhaṁ susassaṁ sulabhapiṇḍaṁ, sukaraṁ uñchena paggahena yāpetuṁ. Hoti kho pana so samayo yaṁ dubbhikkhaṁ hoti dussassaṁ dullabhapiṇḍaṁ, na sukaraṁ uñchena paggahena yāpetuṁ. Dubbhikkhe kho pana manussā yena subhikkhaṁ tena saṅkamanti. Tattha saṅgaṇikavihāro hoti ākiṇṇavihāro. Saṅgaṇikavihāre kho pana sati ākiṇṇavihāre na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, na sukarāni araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevituṁ. Purā maṁ so dhammo āgacchati aniṭṭho akanto amanāpo; handāhaṁ paṭikacceva vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya, yenāhaṁ dhammena samannāgato dubbhikkhepi phāsu viharissāmī’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a mendicant reflects: ‘Currently, there’s plenty of food, a good harvest, so it’s easy to get almsfood, and easy to keep going by collecting alms. But there will come a time of famine, a bad harvest, when it’s hard to get almsfood, and not easy to keep going by collecting alms. In a time of famine, people move to where there’s plenty of food, where they live crowded and cramped together. When you live crowded and cramped together, it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas, and it’s not easy to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. Before that unlikable, undesirable, and disagreeable thing happens, I’d better preempt it by rousing up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. That way, when it happens, I’ll live comfortably even though there’s a famine.’ This is the third future peril …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Hiện tại đang được sung túc, mùa màng tốt đẹp, vật thực dễ kiếm, dễ dàng sống bằng cách đi khất thực từng nhà. Tuy nhiên, sẽ có thời điểm xảy ra nạn đói, mùa màng thất bát, vật thực khó kiếm, không dễ dàng sống bằng cách đi khất thực từng nhà. Và khi có nạn đói, loài người di chuyển đến nơi sung túc. Ở nơi ấy, việc sống chung với hội chúng, việc sống chung lộn sẽ xảy ra. Khi phải sống chung với hội chúng, sống chung lộn thì không dễ dàng tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, không dễ dàng lui tới các trú xứ xa vắng là rừng núi hẻo lánh. Trước khi pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng ấy đến với ta; thôi thì ta hãy sớm tinh tấn để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, nhờ pháp ấy mà ta được thành tựu, dù trong lúc đói kém vẫn có thể sống được an lạc.’ Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ ba. Khi thấy rõ mối nguy hiểm này, vị tỳ khưu nên sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘etarahi kho manussā samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharanti. Hoti kho pana so samayo yaṁ bhayaṁ hoti aṭavisaṅkopo, cakkasamārūḷhā jānapadā pariyāyanti. Bhaye kho pana sati manussā yena khemaṁ tena saṅkamanti. Tattha saṅgaṇikavihāro hoti ākiṇṇavihāro. Saṅgaṇikavihāre kho pana sati ākiṇṇavihāre na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, na sukarāni araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevituṁ. Purā maṁ so dhammo āgacchati aniṭṭho akanto amanāpo; handāhaṁ paṭikacceva vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya, yenāhaṁ dhammena samannāgato bhayepi phāsuṁ viharissāmī’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a mendicant reflects: ‘Currently, people live in harmony, appreciating each other, without dispute, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes. But there will come a time of peril due to turmoil in the wilds, so the countryfolk mount their vehicles and flee everywhere. In a time of peril, people move to where there’s sanctuary, where they live crowded and cramped together. When you live crowded and cramped together, it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas, and it’s not easy to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. Before that unlikable, undesirable, and disagreeable thing happens, I’d better preempt it by rousing up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. That way, when it happens, I’ll live comfortably even in a time of peril.’ This is the fourth future peril …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Hiện tại, loài người sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương. Tuy nhiên, sẽ có thời điểm xảy ra hiểm nguy, giặc cướp nổi lên ở vùng biên địa, dân chúng trong xứ phải lên xe di chuyển lánh nạn. Và khi có hiểm nguy, loài người di chuyển đến nơi an ổn. Ở nơi ấy, việc sống chung với hội chúng, việc sống chung lộn sẽ xảy ra. Khi phải sống chung với hội chúng, sống chung lộn thì không dễ dàng tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, không dễ dàng lui tới các trú xứ xa vắng là rừng núi hẻo lánh. Trước khi pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng ấy đến với ta; thôi thì ta hãy sớm tinh tấn để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, nhờ pháp ấy mà ta được thành tựu, dù trong lúc hiểm nguy vẫn có thể sống được an lạc.’ Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ tư. Khi thấy rõ mối nguy hiểm này, vị tỳ khưu nên sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘etarahi kho saṅgho samaggo sammodamāno avivadamāno ekuddeso phāsu viharati. Hoti kho pana so samayo yaṁ saṅgho bhijjati. Saṅghe kho pana bhinne na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, na sukarāni araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevituṁ. Purā maṁ so dhammo āgacchati aniṭṭho akanto amanāpo; handāhaṁ paṭikacceva vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya, yenāhaṁ dhammena samannāgato bhinnepi saṅghe phāsuṁ viharissāmī’ti. Idaṁ, bhikkhave, pañcamaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a mendicant reflects: ‘Currently, the Saṅgha lives comfortably, in harmony, appreciating each other, without dispute, with one recitation. But there will come a time of schism in the Saṅgha. When there is schism in the Saṅgha, it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas, and it’s not easy to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. Before that unlikable, undesirable, and disagreeable thing happens, I’d better preempt it by rousing up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. That way, when it happens, I’ll live comfortably even though there’s schism in the Saṅgha.’ This is the fifth future peril …
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu suy xét như vầy: ‘Hiện tại, Tăng chúng sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, cùng chung một đường lối chỉ dạy, sống được an lạc. Tuy nhiên, sẽ có thời điểm Tăng chúng bị chia rẽ. Và khi Tăng chúng bị chia rẽ, không dễ dàng tác ý đến giáo pháp của các đức Phật, không dễ dàng lui tới các trú xứ xa vắng là rừng núi hẻo lánh. Trước khi pháp không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng ấy đến với ta; thôi thì ta hãy sớm tinh tấn để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, nhờ pháp ấy mà ta được thành tựu, dù Tăng chúng bị chia rẽ vẫn có thể sống được an lạc.’ Này các tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ năm. Khi thấy rõ mối nguy hiểm này, vị tỳ khưu nên sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ.
Imāni kho, bhikkhave, pañca anāgatabhayāni sampassamānena alameva bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
These are the five future perils, seeing which is quite enough for a mendicant to meditate diligently, keenly, and resolutely for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.”
Này các tỳ khưu, khi thấy rõ năm mối nguy hiểm vị lai này, vị tỳ khưu nên sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để liễu ngộ điều chưa liễu ngộ, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. (Hết) phẩm thứ tám.