- Aṅguttara Nikāya 5.77
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.77 — Sợ Hãi Trong Tương Lai (1)
Paṭhamaanāgatabhayasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, do quán thấy năm sợ hãi trong tương lai này, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: “Nay ta sống một mình trong rừng. Khi ta sống một mình trong rừng, con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy là chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đạt những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ nhất này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống ở trong rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống ở trong rừng quán sát như sau: “Nay ta sống một mình trong rừng. Khi ta sống một mình trong rừng, ta có thể vấp ngã và té xuống, cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể làm ta khuấy động, hay niêm dịch (đàm) có thể làm ta khuấy động, các gió như kiếm có thể làm ta khuấy động, do vậy ta có thể mệnh chung. Như vậy là chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái, cố gắng để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ hai này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chứa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: “Nay ta sống một mình trong rừng. Sống một mình trong rừng, ta chung sống với các loài thú nguy hiểm, như sư tử, cọp, báo, gấu, dã can. Chúng có thể đoạt mạng sống của ta, có thể làm ta mệnh chung. Như vậy là một sự chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ ba này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: “Nay ta sống một mình trong rừng. Trong khi ta sống một mình trong rừng, ta chung sống với các loài ăn trộm, ăn cắp đã hành nghề. Chúng có thể đoạt mạng sống của ta, chúng có thể làm ta mạng chung và như vậy là một chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ tư này về tương lai, thật là vừa đủ để vị Tỷ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống ở rừng quán sát như sau: “Nay ta sống một mình ở trong rừng. Ở trong rừng có những loài phi nhân nguy hiểm, chúng có thể đoạt mạng sống của ta làm ta mệnh chung, như vậy là một chướng ngại cho ta. Vậy ta hãy hăng hái tinh cần để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ”.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy sợ hãi thứ năm này về tương lai, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Này các Tỷ-kheo, do quán thấy năm sợ hãi về tương lai này, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo sống ở rừng không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.77
- 8. Warriors
Future Perils (1st)
7. Bài kinh Về Mối Nguy Hiểm Trong Tương Lai (thứ nhất)
“Pañcimāni, bhikkhave, anāgatabhayāni sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
“Mendicants, seeing these five future perils is quite enough for a wilderness mendicant to meditate diligently, keenly, and resolutely for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.
77. Này các Tỳ khưu, có năm mối nguy hiểm trong tương lai này, khi một vị Tỳ khưu sống trong rừng thấy rõ, thì thật thích hợp để vị ấy sống không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí, để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng.
Katamāni pañca? Idha, bhikkhave, āraññiko bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi ekako araññe viharāmi. Ekakaṁ kho pana maṁ araññe viharantaṁ ahi vā maṁ ḍaṁseyya, vicchiko vā maṁ ḍaṁseyya, satapadī vā maṁ ḍaṁseyya, tena me assa kālaṅkiriyā, so mamassa antarāyo; handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
What five? Firstly, a wilderness mendicant reflects: ‘Currently I’m living alone in a wilderness. While living here alone I might get bitten by a snake, a scorpion, or a centipede. And if I died from that it would be an obstacle to my progress. I’d better rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ This is the first future peril …
Năm điều ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống trong rừng suy xét như sau: ‘Nay ta đang sống một mình trong rừng. Khi ta đang sống một mình trong rừng, có thể rắn sẽ cắn ta, hoặc bọ cạp sẽ cắn ta, hoặc rết sẽ cắn ta; do đó ta có thể mệnh chung, và đó sẽ là một chướng ngại cho ta. Thôi nào, ta hãy tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ nhất trong tương lai, khi một vị Tỳ khưu sống trong rừng thấy rõ, thì thật thích hợp để vị ấy sống không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí, để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, āraññiko bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi ekako araññe viharāmi. Ekako kho panāhaṁ araññe viharanto upakkhalitvā vā papateyyaṁ, bhattaṁ vā bhuttaṁ me byāpajjeyya, pittaṁ vā me kuppeyya, semhaṁ vā me kuppeyya, satthakā vā me vātā kuppeyyuṁ, tena me assa kālaṅkiriyā, so mamassa antarāyo; handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a wilderness mendicant reflects: ‘Currently I’m living alone in a wilderness. While living here alone I might stumble off a cliff, or get food poisoning, or suffer a disturbance of bile, phlegm, or piercing winds. And if I died from that it would be an obstacle to my progress. I’d better rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ This is the second future peril …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống trong rừng suy xét như sau: ‘Nay ta đang sống một mình trong rừng. Khi ta đang sống một mình trong rừng, ta có thể bị trượt chân ngã, hoặc thức ăn đã ăn có thể làm ta bị bệnh, hoặc mật của ta có thể bị kích động, hoặc đàm của ta có thể bị kích động, hoặc những cơn gió như dao cắt có thể nổi lên trong ta; do đó ta có thể mệnh chung, và đó sẽ là một chướng ngại cho ta. Thôi nào, ta hãy tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm thứ hai trong tương lai, khi một vị Tỳ khưu sống trong rừng thấy rõ, thì thật thích hợp để vị ấy sống không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí, để đạt được điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thực chứng điều chưa thực chứng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, āraññiko bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi ekako araññe viharāmi. Ekako kho panāhaṁ araññe viharanto vāḷehi samāgaccheyyaṁ, sīhena vā byagghena vā dīpinā vā acchena vā taracchena vā, te maṁ jīvitā voropeyyuṁ, tena me assa kālaṅkiriyā, so mamassa antarāyo; handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a wilderness mendicant reflects: ‘Currently I’m living alone in a wilderness. While living here alone I might encounter wild beasts—a lion, a tiger, a leopard, a bear, or a hyena—which might take my life. And if I died from that it would be an obstacle to my progress. I’d better rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ This is the third future peril …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu sống trong rừng suy xét như vầy: ‘Hiện nay, ta đang sống một mình trong rừng. Khi đang sống một mình trong rừng, ta có thể gặp phải các loài thú dữ, hoặc sư tử, hoặc cọp, hoặc báo, hoặc gấu, hoặc linh cẩu. Chúng có thể cướp đi mạng sống của ta. Do đó, ta có thể chết, và cái chết ấy là sự trở ngại cho ta. Vậy thì, ta hãy tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ ba. Khi thấy rõ điều này, vị Tỳ khưu sống trong rừng cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, āraññiko bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi ekako araññe viharāmi. Ekako kho panāhaṁ araññe viharanto māṇavehi samāgaccheyyaṁ katakammehi vā akatakammehi vā, te maṁ jīvitā voropeyyuṁ, tena me assa kālaṅkiriyā, so mamassa antarāyo; handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a wilderness mendicant reflects: ‘Currently I’m living alone in a wilderness. While living here alone I might encounter youths escaping a crime or on their way to commit one, and they might take my life. And if I died from that it would be an obstacle to my progress. I’d better rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ This is the fourth future peril …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu sống trong rừng suy xét như vầy: ‘Hiện nay, ta đang sống một mình trong rừng. Khi đang sống một mình trong rừng, ta có thể gặp phải những kẻ trộm cướp, dù đã gây án hay chưa gây án. Chúng có thể cướp đi mạng sống của ta. Do đó, ta có thể chết, và cái chết ấy là sự trở ngại cho ta. Vậy thì, ta hãy tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ tư. Khi thấy rõ điều này, vị Tỳ khưu sống trong rừng cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.
Puna caparaṁ, bhikkhave, āraññiko bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi ekako araññe viharāmi. Santi kho panāraññe vāḷā amanussā, te maṁ jīvitā voropeyyuṁ, tena me assa kālaṅkiriyā, so mamassa antarāyo; handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. Idaṁ, bhikkhave, pañcamaṁ anāgatabhayaṁ sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Furthermore, a wilderness mendicant reflects: ‘Currently I’m living alone in a wilderness. But in a wilderness there are savage monsters who might take my life. And if I died from that it would be an obstacle to my progress. I’d better rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ This is the fifth future peril …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu sống trong rừng suy xét như vầy: ‘Hiện nay, ta đang sống một mình trong rừng. Trong rừng có những loài phi nhân hung dữ. Chúng có thể cướp đi mạng sống của ta. Do đó, ta có thể chết, và cái chết ấy là sự trở ngại cho ta. Vậy thì, ta hãy tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.’ Này các Tỳ khưu, đây là mối nguy hiểm vị lai thứ năm. Khi thấy rõ điều này, vị Tỳ khưu sống trong rừng cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng.
Imāni kho, bhikkhave, pañca anāgatabhayāni sampassamānena alameva āraññikena bhikkhunā appamattena ātāpinā pahitattena viharituṁ appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā”ti.
Sattamaṁ.
These are the five future perils, seeing which is quite enough for a wilderness mendicant to meditate diligently, keenly, and resolutely for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.”
Này các Tỳ khưu, khi thấy rõ năm mối nguy hiểm vị lai này, vị Tỳ khưu sống trong rừng cần phải sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí để đạt được những gì chưa đạt, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, để thực chứng những gì chưa thực chứng. Hết bài kinh thứ bảy.