- Aṅguttara Nikāya 5.76
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.76 — Người Chiến Sĩ (2)
Dutiyayodhājīvasutta
—Có năm người chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Người ấy trong trận chiến ấy nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực và hăng hái như vậy, đánh người ấy và áp đảo người ấy. Như vậy, ở đây này các Tỷ-kheo, có hạng người chiến sĩ như vậy. Ðây là hạng chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực, hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các bà con. Khi chở người ấy đi và chưa đến các bà con, người ấy mệnh chung ở giữa đường. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng chiến sĩ như vậy. Ðây là hạng chiến sĩ thứ hai, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương và khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các bà con. Và những người bà con săn sóc và nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, trong khi được các người bà con săn sóc và nuôi dưỡng, bị mệnh chung vì vết thương ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người chiến sĩ như vậy. Ðây gọi là hạng chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương, và khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các người bà con. Và những người bà con nuôi dưỡng và săn sóc người ấy. Người ấy, trong khi được các người bà con săn sóc và nuôi dưỡng, được chữa lành các vết thương ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong chiến trận ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng chiến sĩ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng chiến sĩ thứ năm có mặt, hiện hữu ở đời.
Năm hạng chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những hạng người được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống dựa vào ngôi làng hay thị trấn. Vị ấy, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy thấy một nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo. Ðược thấy nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công tâm vị ấy. Tâm bị tham dục tấn công, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học pháp, vị ấy rơi vào hành dâm.
Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, cầm gươm và mâu, đeo cung và tên tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy trong trận chiến ấy nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, đánh người ấy và áp đảo người ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với hạng chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay thị trấn. Vị ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực, với thân không phòng hộ, với lời nói không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không được bảo vệ. Ở đây, vị ấy thấy một nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo. Ðược thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham dục tấn công nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu cháy. Vị ấy nghĩ: “Ta hãy đi về khu vườn (chỗ Tăng ở) báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh, tôi không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, tôi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi trở về với đời sống thế tục”. Vị ấy, trên con đường đi đến khu vườn, còn ở giữa đường, biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, trở về đời sống thế tục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy, và đưa người ấy đến các bà con, người ấy mệnh chung giữa đường. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống với ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn ấy để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy thấy nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công vị ấy. Vị ấy với tham dục bị tấn công, nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu cháy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến khu vườn báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu hiện sự yếu kém trong học tập, tôi từ bỏ học pháp, sẽ trở về với đời sống thế tục”. Các vị đồng Phạm hạnh giáo giới, khuyên bảo như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói: “Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như bó đuốc bằng cỏ, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như vật dụng mượn dùng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như quả của cây, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như lò thịt, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như cây gậy nhọn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như đầu rắn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn”. Tôn giả hãy tìm sự thoải mái trong Phạm hạnh! Tôn giả chớ biểu hiện sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp và trở lui đời sống thế tục”.
Vị ấy được các đồng Phạm hạnh giáo giới như vậy, khuyên bảo như vậy, liền nói như sau: “Này các Hiền giả, dầu cho Thế Tôn có nói các dục ngọt ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn, nhưng tôi không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh. Sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi sẽ trở về đời sống thế tục”. Sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, sau khi từ bỏ học pháp, vị ấy trở lui đời sống thế tục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy, sau khi cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến khốc liệt. Vị ấy, trong chiến trận ấy, nỗ lực, hăng hái. Nhưng các người khác trong khi có nỗ lực, hăng hái như vậy, làm cho người bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy, và đưa người ấy đến các người bà con. Các người bà con săn sóc nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, tuy được các người bà con săn sóc nuôi dưỡng nhưng bị mệnh chung vì vết thương ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này được ví như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như vậy. Này các Tỷ kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào làng hay thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào ngôi làng hay thị trấn ấy để khất thực, với thân không phòng hộ, với lời không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy, thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo. Sau khi thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham dục tấn công, nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu đốt. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến khu vườn, báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh. Tôi tuyên bố sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, trở về với đời sống thế tục”. Vị ấy đi đến khu vườn, báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh; sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi trở về với đời sống thế tục”. Các vị đồng Phạm hạnh giáo giới khuyên bảo như sau: “Này hiền giả, Thế Tôn đã nói: “Các dục ngọt ít, đắng nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn… Các dục được Thế Tôn ví như đầu rắn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn”. Tôn giả hãy tìm sự thoải mái trong Phạm hạnh. Hiền giả chớ biểu lộ sự kém trong học tập, từ bỏ học pháp và trở lui đời sống thế tục”.
Vị ấy được các đồng giáo giới như vậy, khuyên bảo như vậy, nói như vầy: “Thưa các Hiền giả, tôi sẽ nỗ lực. Thưa các Hiền giả, tôi sẽ cố gắng. Thưa các Hiển giả, tôi sẽ sống thoải mái. Nay tôi không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, không từ bỏ học pháp, không trở lui về đời sống thế tục”.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy và đưa người ấy đến các bà con. Các người bà con săn sóc người ấy, nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, nhờ các bà con săn sóc nuôi dưỡng, được chữa lành khỏi vết thương. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như vậy. Người này, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm bát y, vào làng hay thị trấn ấy để khất thực, với thân được phòng hộ, với lời được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được bảo vệ. Vị ấy khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Vị ấy, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến một chỗ sàng tọa trống trải, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang núi, bãi tha ma, cao nguyên, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-gà, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Vị ấy đoạn tận tham ở đời, an trú với tâm ly tham… chứng đạt và an trú sơ Thiền… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với tâm định tĩnh, trong sáng, không cấu uế, các phiền não được đoạn trừ, nhu nhuyến, kham nhẫn, kiên trì, bất động, hướng tâm về trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đi đến khổ diệt… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Người ấy, sau khi chiến thắng trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng đầu trong chiến trận ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Ðây là hạng người được ví dụ với chiến sĩ thứ năm, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người được ví dụ với năm người chiến sĩ này, có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.76
- 8. Warriors
Warriors (2nd)
6. Kinh Người Chiến Sĩ Thứ Hai
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati. So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati. Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
“Mendicants, these five warriors are found in the world. What five?
Firstly, one warrior dons his sword and shield, fastens his bow and arrows, and plunges into the thick of battle. He strives and struggles in the battle, but his foes kill him and finish him off. Some warriors are like that. This is the first warrior found in the world.
76. Này các Tỳ khưu, có năm hạng người chiến sĩ này đang hiện hữu có mặt ở trên đời. Thế nào là năm? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch giết chết, đoạt mạng vị ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ nhất đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati. So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Furthermore, one warrior dons his sword and shield, fastens his bow and arrows, and plunges into the thick of battle. He strives and struggles in the battle,
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch làm cho bị thương. Đồng đội đưa vị ấy đi; sau khi đưa đi, họ mang vị ấy đến cho thân quyến. Vị ấy, trong khi được thân quyến mang đi, chưa đến nhà thân quyến đã chết giữa đường. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ hai đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch làm cho bị thương. Đồng đội đưa vị ấy đi; sau khi đưa đi, họ mang vị ấy đến cho thân quyến. Thân quyến chăm sóc, phục vụ vị ấy. Vị ấy, trong khi được thân quyến chăm sóc, phục vụ, đã chết vì chính vết thương đó. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ ba đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
Furthermore, one warrior dons his sword and shield, fastens his bow and arrows, and plunges into the thick of battle.
“Này các Tỳ khưu, ví như người lính đánh thuê kia, cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, đi vào trận chiến đã được dàn sẵn. Người ấy ở trong trận chiến đó, cố gắng, nỗ lực. Khi người ấy đang cố gắng, đang nỗ lực, kẻ địch giết chết, đoạt mạng. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng giống như ví dụ ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây có một hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ nhất ví như người lính đánh thuê, đang có mặt, hiện hữu giữa các Tỳ khưu.”
“Này các Tỳ khưu, ví như người lính đánh thuê kia, cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, đi vào trận chiến đã được dàn sẵn. Người ấy ở trong trận chiến đó, cố gắng, nỗ lực. Khi người ấy đang cố gắng, đang nỗ lực, kẻ địch bắn trúng. Người ấy được (đồng đội) mang đi; sau khi được mang đi, được đưa đến cho thân quyến. Người ấy, trong khi được thân quyến mang đi, chưa đến nhà thân quyến, đã chết ở giữa đường. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng giống như ví dụ ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây có một hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ hai ví như người lính đánh thuê, đang có mặt, hiện hữu giữa các Tỳ khưu.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
Furthermore, one warrior dons his sword and shield, fastens his bow and arrows, and plunges into the thick of battle.
Này các Tỳ khưu, ví như người chiến sĩ kia, tay cầm gươm và khiên, mang cung và ống tên, đi vào chiến trường đã được dàn trận. Người ấy nỗ lực, cố gắng trong chiến trường ấy. Khi người ấy đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ địch đâm chém. (Đồng đội) mang người ấy đi; sau khi mang đi, họ đưa đến cho thân quyến. Thân quyến của người ấy chăm sóc, phục vụ. Người ấy, trong khi được thân quyến chăm sóc, phục vụ, đã mệnh chung vì chính vết thương ấy. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng hạng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ ba, ví như người chiến sĩ, đang có mặt giữa các Tỳ khưu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
Furthermore, one warrior dons his sword and shield, fastens his bow and arrows, and plunges into the thick of battle.
Này các Tỳ khưu, ví như người chiến sĩ kia, tay cầm gươm và khiên, mang cung và ống tên, đi vào chiến trường đã được dàn trận. Người ấy nỗ lực, cố gắng trong chiến trường ấy. Khi người ấy đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ địch đâm chém. (Đồng đội) mang người ấy đi; sau khi mang đi, họ đưa đến cho thân quyến. Thân quyến của người ấy chăm sóc, phục vụ. Người ấy, trong khi được thân quyến chăm sóc, phục vụ, đã bình phục khỏi vết thương ấy. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng hạng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ tư, ví như người chiến sĩ, đang có mặt giữa các Tỳ khưu.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu. Katame pañca? Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati. So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi. So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā. Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti. So rāgānuddhaṁsitena cittena sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati. So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi. So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā. Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti. So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā. Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ; sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
In the same way, these five individuals similar to warriors are found among the monks. What five? Firstly, a mendicant lives supported by a town or village. He robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There he sees a lady scantily clad, with revealing clothes. Lust infects his mind, and, without resigning the training and declaring his inability to continue, he indulges in sex.
I say that this individual is like the warrior who is killed and finished off by his foes. Some individuals are like that. This is the first individual similar to a warrior found among the monks.
Furthermore, a mendicant lives supported by a town or village. He robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There he sees a lady scantily clad, with revealing clothes. Lust infects his mind, and his body and mind burn with it. He thinks: ‘Why don’t I visit the monastery and tell the monks:
“Reverends, I am overcome with lust, mired in lust. I am unable to keep up the spiritual life. I declare my inability to continue training. I resign it and will return to a lesser life.”’
Này các Tỳ khưu, ví như người chiến sĩ kia, cầm gươm và khiên, mang cung và ống tên, đi vào trận địa đã được dàn sẵn. Vị ấy chinh phục trận chiến đó, sau khi chiến thắng, làm chủ ngay tại đầu trận địa ấy; này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có một hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người thứ năm tương tự người chiến sĩ, đang hiện hữu giữa các Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, năm hạng người tương tự người chiến sĩ này đang hiện hữu giữa các Tỳ khưu. Bài kinh thứ sáu.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti. So ñātakehi nīyamāno appatvāva ñātake antarāmagge kālaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
I say that they are like the warrior who is taken to his relatives for care, but he dies on the road before he reaches them. Some individuals are like that. This is the second individual similar to a warrior found among the monks.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng hoặc một thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, cầm lấy y bát, đi vào chính ngôi làng hoặc thị trấn ấy để khất thực, với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy ở đó thấy người phụ nữ ăn mặc hở hang hoặc che đậy hở hang. Do thấy người phụ nữ ấy ăn mặc hở hang hoặc che đậy hở hang, tham ái xâm chiếm tâm của vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham ái xâm chiếm, bị thiêu đốt bởi thân, bị thiêu đốt bởi tâm. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Chắc chắn ta nên đi đến tu viện rồi báo cho các Tỳ khưu biết: Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái khuấy động, bị tham ái chi phối, không thể duy trì đời sống phạm hạnh. Tôi sẽ tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.’ Vị ấy trong khi đi đến tu viện, chưa đến tu viện, đã tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục ở giữa đường.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati. So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi. So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā. Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti. So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā. Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ; sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti. So ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceti: ‘rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ; sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Furthermore, a mendicant lives supported by a town or village. He robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There he sees a lady scantily clad, with revealing clothes. Lust infects his mind, and his body and mind burn with it. He thinks: ‘Why don’t I visit the monastery and tell the monks:
“Reverends, I am overcome with lust, mired in lust. I am unable to keep up the spiritual life. I declare my inability to continue training. I resign and will return to a lesser life.”’ He goes to the monastery and tells the monks: ‘Reverends, I am overcome with lust, mired in lust. I am unable to keep up the spiritual life. I declare my inability to continue training. I disavow it and will return to a lesser life.’
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng hoặc một thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, cầm lấy y bát, đi vào chính ngôi làng hoặc thị trấn ấy để khất thực, với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy ở đó thấy người phụ nữ ăn mặc hở hang hoặc che đậy hở hang. Do thấy người phụ nữ ấy ăn mặc hở hang hoặc che đậy hở hang, tham ái xâm chiếm tâm của vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham ái xâm chiếm, bị thiêu đốt bởi thân, bị thiêu đốt bởi tâm. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Chắc chắn ta nên đi đến tu viện rồi báo cho các Tỳ khưu biết: Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái khuấy động, bị tham ái chi phối, không thể duy trì đời sống phạm hạnh. Tôi sẽ tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.’ Vị ấy đi đến tu viện rồi báo cho các Tỳ khưu biết: ‘Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái khuấy động, bị tham ái chi phối, không thể duy trì đời sống phạm hạnh. Tôi sẽ tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.’”
Tamenaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti: ‘appassādā, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Abhiramatāyasmā brahmacariye; māyasmā sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattī’ti.
His spiritual companions advise and instruct him: ‘Reverend, the Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. With the similes of a skeleton … a scrap of meat … a grass torch … a pit of glowing coals … a dream … borrowed goods … fruit on a tree … a butcher’s knife and chopping board … swords and spears … a cobra’s head, the Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. Be happy with the spiritual life. Venerable, please don’t declare your inability to continue training, resign it and return to a lesser life.’
“Các vị đồng phạm hạnh khuyên dạy, chỉ bảo vị ấy: ‘Này hiền giả, các dục được Đức Thế Tôn nói là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như bộ xương, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như miếng thịt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như bó đuốc cỏ, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như hố than hừng, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như giấc mộng, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như đồ vay mượn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như trái cây, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như thớt và dao, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như gươm và cọc nhọn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Đức Thế Tôn nói là ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn. Mong hiền giả hãy hoan hỷ trong đời sống phạm hạnh; mong hiền giả đừng tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.’”
So sabrahmacārīhi evaṁ ovadiyamāno evaṁ anusāsiyamāno evamāha: ‘kiñcāpi, āvuso, appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo; atha kho nevāhaṁ sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ, sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti. So sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti, tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti. So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno teneva ābādhena kālaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
When thus advised and instructed by his spiritual companions, he says: ‘Reverends, even though the Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks, I am unable to keep up the spiritual life. I declare my inability to continue training. I resign it and will return to a lesser life.’ Declaring his inability to continue training, he resigns it and returns to a lesser life.
I say that they are like the warrior who dies of his injuries while in the care of his relatives. Some individuals are like that. This is the third individual similar to a warrior found among the monks.
“Vị ấy, được các vị đồng phạm hạnh khuyên dạy như vậy, chỉ bảo như vậy, đã nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, mặc dù các dục được Đức Thế Tôn nói là ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, hiểm họa ở đây lại nhiều hơn; tuy nhiên, tôi không thể duy trì đời sống phạm hạnh. Tôi sẽ tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.’ Vị ấy đã tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati. So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi. So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā. Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti. So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā. Tassa evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ; sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti. So ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceti: ‘rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ; sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Furthermore, a mendicant lives supported by a town or village. He robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties. There he sees a lady scantily clad, with revealing clothes. Lust infects his mind, and his body and mind burn with it. He thinks: ‘Why don’t I visit the monastery and tell the monks:
“Reverends, I am overcome with lust, mired in lust. I am unable to keep up the spiritual life. I declare my inability to continue training. I resign it and will return to a lesser life.”’ He goes to the monastery and tells the monks: ‘Reverends, I am overcome with lust, mired in lust. I am unable to keep up the spiritual life. I declare my inability to continue training. I resign it and will return to a lesser life.’
Lại nữa, này các Tỳ khưu, có vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng hoặc một thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào chính ngôi làng hoặc thị trấn ấy để khất thực, với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy ở đó thấy một người nữ mặc y phục không kín đáo hoặc che đậy không kín đáo. Do thấy người nữ ấy mặc y phục không kín đáo hoặc che đậy không kín đáo, tham ái làm hư hoại tâm của vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham ái làm hư hoại, bị thiêu đốt nơi thân, bị thiêu đốt nơi tâm. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Hay là ta nên đi về tu viện và thưa với các Tỳ khưu rằng: “Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái xâm chiếm, bị tham ái chế ngự. Tôi không thể duy trì phạm hạnh. Sau khi tuyên bố sự yếu kém trong học giới, tôi sẽ từ bỏ học giới và hoàn tục.”’. Vị ấy đi về tu viện và thưa với các Tỳ khưu: ‘Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái xâm chiếm, bị tham ái chế ngự. Tôi không thể duy trì phạm hạnh. Sau khi tuyên bố sự yếu kém trong học giới, tôi sẽ từ bỏ học giới và hoàn tục.’
Tamenaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti: ‘appassādā, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā … aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā … supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā … asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Abhiramatāyasmā brahmacariye; māyasmā sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattī’ti.
His spiritual companions advise and instruct him: ‘Reverend, the Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. With the simile of a skeleton … a scrap of meat … a grass torch … a pit of glowing coals … a dream … borrowed goods … fruit on a tree … a butcher’s knife and chopping board … swords and spears … a cobra’s head, the Buddha says that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks. Be happy with the spiritual life. Venerable, please don’t declare your inability to continue training, resign it and return to a lesser life.’
Các vị đồng phạm hạnh khuyên dạy, chỉ bảo vị ấy: ‘Thưa hiền giả, Đức Thế Tôn đã dạy rằng các dục có ít vị ngọt, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại càng nhiều hơn. Đức Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như khúc xương, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại càng nhiều hơn. Đức Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như miếng thịt... ví như bó đuốc cỏ... ví như hố than hừng... ví như giấc mộng... ví như vật đi mượn... ví như trái cây trên cây... ví như cái thớt... ví như ngọn giáo, cây cọc... Đức Thế Tôn đã dạy rằng các dục ví như đầu rắn, nhiều đau khổ, nhiều phiền não, sự nguy hiểm ở đây lại càng nhiều hơn. Mong hiền giả hãy hoan hỷ trong phạm hạnh; mong hiền giả đừng tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới và hoàn tục.’
So sabrahmacārīhi evaṁ ovadiyamāno evaṁ anusāsiyamāno evamāha: ‘ussahissāmi, āvuso, vāyamissāmi, āvuso, abhiramissāmi, āvuso. Na dānāhaṁ, āvuso, sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti, tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti. So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno vuṭṭhāti tamhā ābādhā; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
When thus advised and instructed by his spiritual companions, he says: ‘I’ll make an attempt, reverends, I’ll struggle, I’ll be happy. I won’t now declare my inability to continue training, resign it and return to a lesser life.’
I say that this individual is like the warrior who recovers from his injuries while in the care of his relatives. Some individuals are like that. This is the fourth individual similar to a warrior found among the monks.
Vị ấy, được các vị đồng phạm hạnh khuyên dạy như vậy, chỉ bảo như vậy, đã nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, tôi sẽ nỗ lực. Thưa các hiền giả, tôi sẽ cố gắng. Thưa các hiền giả, tôi sẽ hoan hỷ! Thưa các hiền giả, bây giờ tôi sẽ không tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới và hoàn tục nữa.’
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati. So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena upaṭṭhitāya satiyā saṁvutehi indriyehi. So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya …pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, a mendicant lives supported by a town or village. He robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters a village or town, guarding body, speech, and mind, establishing mindfulness, and restraining the sense faculties. Seeing a sight with his eyes, he doesn’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, he practices restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. Hearing a sound with his ears … Smelling an odor with his nose … Tasting a flavor with his tongue … Encountering a touch with his body … Knowing an idea with his mind, he doesn’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, he practices restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. Then after the meal, on his return from almsround, he frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. Gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, he sits down cross-legged, sets his body straight, and brings mindfulness to the present. He gives up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu sống nương tựa vào một ngôi làng hoặc một thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, đi vào ngôi làng hoặc thị trấn ấy để khất thực, với thân được phòng hộ, với lời nói được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được chế ngự. Vị ấy sau khi nhìn thấy sắc pháp bằng mắt, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu nhãn căn không được chế ngự, các pháp bất thiện ác độc là tham ái và ưu phiền có thể xâm chiếm, vị ấy thực hành sự chế ngự nhân ấy; vị ấy phòng hộ nhãn căn; vị ấy đạt đến sự chế ngự trong nhãn căn. Sau khi nghe thấy âm thanh bằng tai… sau khi ngửi thấy mùi hương bằng mũi… sau khi nếm vị bằng lưỡi… sau khi cảm nhận xúc chạm bằng thân… sau khi nhận biết pháp bằng ý, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà nếu ý căn không được chế ngự, các pháp bất thiện ác độc là tham ái và ưu phiền có thể xâm chiếm, vị ấy thực hành sự chế ngự nhân ấy; vị ấy phòng hộ ý căn; vị ấy đạt đến sự chế ngự trong ý căn. Vị ấy sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, tìm đến một trú xứ thanh vắng: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang động, khe núi, nghĩa địa, lùm cây trong rừng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy, đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, ngồi xuống, xếp chân kiết-già, giữ thân thẳng, an trú niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời… … Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, ly dục… … chứng và trú thiền thứ tư.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Chaṭṭhaṁ.
When his mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—he extends it toward knowledge of the ending of defilements. He truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. He truly understands: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, his mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When he’s freed, he knows he’s freed. He understands: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
I say that this individual is like the warrior who dons his sword and shield, fastens his bow and arrows, and plunges into the thick of battle. He wins victory in battle, establishing himself as foremost in battle. Some individuals are like that. This is the fifth individual similar to a warrior found among the monks.
These five individuals similar to warriors are found among the monks.”
Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’... ... vị ấy tuệ tri: ‘Không còn gì khác cho trạng thái này nữa’.