- Aṅguttara Nikāya 5.75
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.75 — Người Chiến Sĩ (1)
Paṭhamayodhājīvasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ chỉ thấy bụi mù dấy lên đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là người chiến sĩ thứ nhất có mặt hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, chịu đựng tiếng la hét, nhưng khi bị thương trong chiến trận, liền thất kinh, thất đảm. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, chịu đựng tiếng la hét, chịu đựng cuộc xáp chiến. Vị ấy, sau khi thắng trận, dự phần vào chiến thắng, cầm đầu trong chiến thắng. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng chiến sĩ. Ðây là hạng người chiến sĩ thứ năm, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
Năm hạng người chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này, có năm hạng người có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi thấy bụi mù dấy lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là bụi mù dấy lên đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Tại một làng hay một thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”. Khi được nghe vậy, vị ấy liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa bụi mù dấy lên đối với vị ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, hạng người chiến sĩ ấy, khi mới thấy bụi mù dấy lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham dự chiến trận. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Ðây là người, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với hạng người chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là cờ xí dựng lên đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nghe: “Tại một làng hay thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đạp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”, nhưng vị ấy tự mình thấy một phụ nữ hay một thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen. Vị ấy, sau khi thấy người phụ nữ hay người thiếu nữ ấy, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa cờ xí dựng lên đối với vị ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, hạng người chiến sĩ ấy chịu đựng được bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể ra trận xáp chiến. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Ðây là người, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với hạng người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là tiếng la hét đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một nữ nhân đi đến vị Tỷ-kheo tại ngôi rừng, dưới một gốc cây hay tại ngôi nhà trống, cười nhạo Tỷ-kheo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả. Tỷ-kheo bị nữ nhân cười nhạo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự hèn yếu trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa của tiếng la hét đối với vị ấy.
Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể ra trận xáp chiến. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, nhưng bị thương trong khi xáp chiến lâm trận liền thất kinh thất đảm. Thế nào là xáp chiến lâm trận đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi đi đến ngôi rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, một nữ nhân đến Tỷ-kheo ấy, ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn. Tỷ-kheo ấy được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, được vuốt ve mơn trớn, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, (nhưng vị ấy lại) rơi vào hành dâm (với nữ nhân). Ðây là nghĩa xáp chiến lâm trận đối với vị ấy. Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, nhưng khi lâm trận xáp chiến, bị thương, thất kinh, thất đảm. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, chịu đựng được xáp chiến lâm trận. Vị ấy sau khi chiến thắng chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong trận chiến ấy. Thế nào là sự chiến thắng trong chiến trận đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo đi đến ngôi nhà rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, có nữ nhân đi đến vị ấy, ngồi xuống sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn. Vị ấy, khi được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn, liền gỡ mình ra, gỡ thoát ra, và ra đi chỗ nào mình muốn.
Và vị ấy đi đến một chỗ trống trải, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe đá, hang núi, nghĩa địa, cao nguyên, ngoài trời, đống rơm. Rồi vị ấy đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi đoạn tận tham, an trú với tâm ly tham, gột sạch tâm khỏi tham, sau khi đoạn tận sân, an trú với tâm ly sân, có lòng thương tưởng đến tất cả loài hữu tình và chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận; sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, an trú với tâm ly thụy miên hôn trầm, với tưởng ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm thụy miên; sau khi đoạn tận trạo cử hối quá, an trú không trạo cử, nội tâm tịch tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử hối quá; sau khi đoạn tận nghi, an trú với tâm vượt khỏi nghi ngờ, không còn nghi hoặc, gột sạch tâm khỏi nghi ngờ đối với các thiện pháp. Vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện… chứng đạt và an trú sơ Thiền… an trú Thiền thứ tư.
Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, ly các tùy phiền mão, nhu nhuyến, kham nhẫn, kiên trì, bất động, hướng tâm về trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”; như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”; như thật rõ biết: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”; như thật rõ biết: “Những pháp này là những lậu hoặc”; như thật rõ biết: “Ðây là lậu hoặc tập khởi”; như thật rõ biết: “Ðây là lậu hoặc đoạn diệt”. Như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc đoạn diệt”. Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, nay không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ðây là sự chiến thắng trong trận chiến đối với vị ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được các tiếng la hét, chịu đựng được sự xáp chiến. Vị ấy, sau khi chiến thắng chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong trận chiến ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đấy là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ năm có mặt, hiện hữu ở đời.
Những người này, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm chiến sĩ có mặt, hiện hữu ở giữa các vị Tỷ-kheo.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.75
- 8. Warriors
Warriors (1st)
5. Kinh Người Lính Chiến Đấu (thứ nhất)
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
“Mendicants, these five warriors are found in the world. What five?
Firstly, one warrior falters and founders at the mere sight of a cloud of dust. He doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle.
75. Này các Tỳ khưu, có năm hạng người lính chiến đấu này hiện hữu, có mặt ở đời. Thế nào là năm? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người lính chiến đấu vừa thấy đám bụi liền bị chìm xuống, bị suy sụp, không đứng vững được, không thể bước vào trận chiến. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người lính chiến đấu như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người lính chiến đấu thứ nhất hiện hữu, có mặt ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người lính chiến đấu chịu đựng được đám bụi; nhưng vừa thấy ngọn cờ liền bị chìm xuống, bị suy sụp, không đứng vững được, không thể bước vào trận chiến. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người lính chiến đấu như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người lính chiến đấu thứ hai hiện hữu, có mặt ở đời.
76. Này các Tỳ khưu, có năm hạng người chiến sĩ này đang hiện hữu có mặt ở trên đời. Thế nào là năm? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch giết chết, đoạt mạng vị ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ nhất đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ; api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ sahati dhajaggaṁ; api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Furthermore, one warrior can prevail over a cloud of dust, but he falters and founders at the mere sight of a banner’s crest. He doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. Some warriors are like that. This is the second warrior found in the world.
Furthermore, one warrior can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest, but he falters and founders at the mere sound of turmoil. He doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. Some warriors are like that.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch làm cho bị thương. Đồng đội đưa vị ấy đi; sau khi đưa đi, họ mang vị ấy đến cho thân quyến. Vị ấy, trong khi được thân quyến mang đi, chưa đến nhà thân quyến đã chết giữa đường. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ hai đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ; api ca kho sampahāre haññati byāpajjati. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Furthermore, one warrior can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest and turmoil, but he’s killed or injured when blows are struck. Some warriors are like that.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch làm cho bị thương. Đồng đội đưa vị ấy đi; sau khi đưa đi, họ mang vị ấy đến cho thân quyến. Thân quyến chăm sóc, phục vụ vị ấy. Vị ấy, trong khi được thân quyến chăm sóc, phục vụ, đã chết vì chính vết thương đó. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ ba đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ.
Furthermore, one warrior can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest and turmoil and being struck.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy nỗ lực, cố gắng trong trận chiến đó. Khi vị ấy đang nỗ lực, cố gắng, kẻ địch làm cho bị thương. Đồng đội đưa vị ấy đi; sau khi đưa đi, họ mang vị ấy đến cho thân quyến. Thân quyến chăm sóc, phục vụ vị ấy. Vị ấy, trong khi được thân quyến chăm sóc, phục vụ, đã bình phục khỏi vết thương đó. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ tư đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu. Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ. Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Kimassa rajaggasmiṁ?
These are the five warriors found in the world.
In the same way, these five individuals similar to warriors are found among the monks. What five?
Firstly, one monk falters and founders at the mere sight of a cloud of dust. He doesn’t stay firm, and fails to keep up the spiritual life. Declaring his inability to continue training, he resigns it and returns to a lesser life. What is his ‘cloud of dust’?
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người chiến sĩ cầm gươm và khiên, đeo cung và bao tên, tiến vào trận chiến đã được dàn trận. Vị ấy, sau khi chiến thắng trận chiến đó, đã chinh phục chiến trường, bèn làm chủ ngay tại đầu mặt trận đó. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là người chiến sĩ thứ năm đang hiện hữu có mặt ở trên đời. Này các Tỳ khưu, năm hạng người chiến sĩ này đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ; api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ. Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Kimassa dhajaggasmiṁ?
I say that this individual is like the warrior who falters and founders at the mere sight of a cloud of dust. Some individuals are like that. This is the first individual similar to a warrior found among the monks.
Furthermore, one monk can prevail over a cloud of dust, but at the mere sight of a banner’s crest he falters and founders. He doesn’t stay firm, and fails to keep up the spiritual life. Declaring his inability to continue training, he resigns it and returns to a lesser life. What is his ‘banner’s crest’?
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng hoặc một thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, cầm lấy y bát, đi vào chính ngôi làng hoặc thị trấn ấy để khất thực, với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy ở đó thấy người phụ nữ ăn mặc hở hang hoặc che đậy hở hang. Do thấy người phụ nữ ấy ăn mặc hở hang hoặc che đậy hở hang, tham ái xâm chiếm tâm của vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham ái xâm chiếm, bị thiêu đốt bởi thân, bị thiêu đốt bởi tâm. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Chắc chắn ta nên đi đến tu viện rồi báo cho các Tỳ khưu biết: Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái khuấy động, bị tham ái chi phối, không thể duy trì đời sống phạm hạnh. Tôi sẽ tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục.’ Vị ấy trong khi đi đến tu viện, chưa đến tu viện, đã tuyên bố sự yếu kém trong học giới, từ bỏ học giới, và hoàn tục ở giữa đường.”
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ; api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
I say that this individual is like the warrior who can prevail over a cloud of dust, but he falters and founders at the mere sight of a banner’s crest. Some individuals are like that.
Cũng vậy, này các Tỳ khưu, có năm hạng người ví như người chiến sĩ này đang hiện hữu có mặt giữa các Tỳ khưu. Thế nào là năm? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng hay thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, mang bát, đi vào làng hay thị trấn đó để khất thực, với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy ở đó thấy người phụ nữ ăn mặc không chỉnh tề hoặc y phục xốc xếch. Khi thấy người phụ nữ ăn mặc không chỉnh tề hoặc y phục xốc xếch, tham ái khuấy động tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham ái khuấy động, không từ bỏ học giới, không tuyên bố sự yếu kém, bèn thực hành dâm pháp.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ; api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ. Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Kimassa ussāraṇāya? Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā ūhasati ullapati ujjagghati uppaṇḍeti. So mātugāmena ūhasiyamāno ullapiyamāno ujjagghiyamāno uppaṇḍiyamāno saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ. Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati. Idamassa ussāraṇāya.
Furthermore, one monk can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest, but he falters and founders at the mere sound of turmoil. He doesn’t stay firm, and fails to keep up the spiritual life. Declaring his inability to continue training, he resigns it and returns to a lesser life. What is his ‘turmoil’? It’s when a mendicant who has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut is approached by a lady. She smiles, chats, laughs, and teases him. He falters and founders. He doesn’t stay firm, and fails to keep up the spiritual life. Declaring his inability to continue training, he resigns it and returns to a lesser life. This is his ‘turmoil’.
“Này các Tỳ khưu, ví như người lính đánh thuê kia, cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, đi vào trận chiến đã được dàn sẵn. Người ấy ở trong trận chiến đó, cố gắng, nỗ lực. Khi người ấy đang cố gắng, đang nỗ lực, kẻ địch bắn trúng. Người ấy được (đồng đội) mang đi; sau khi được mang đi, được đưa đến cho thân quyến. Người ấy, trong khi được thân quyến mang đi, chưa đến nhà thân quyến, đã chết ở giữa đường. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng giống như ví dụ ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây có một hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ hai ví như người lính đánh thuê, đang có mặt, hiện hữu giữa các Tỳ khưu.”
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ; api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
I say that this individual is like the warrior who can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest, but he falters and founders at the mere sound of turmoil. Some individuals are like that.
“Này các Tỳ khưu, ví như người lính đánh thuê kia, cầm lấy gươm và khiên, đeo cung và ống tên, đi vào trận chiến đã được dàn sẵn. Người ấy ở trong trận chiến đó, cố gắng, nỗ lực. Khi người ấy đang cố gắng, đang nỗ lực, kẻ địch giết chết, đoạt mạng. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng giống như ví dụ ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây có một hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ nhất ví như người lính đánh thuê, đang có mặt, hiện hữu giữa các Tỳ khưu.”
Này các Tỳ khưu, ví như người chiến sĩ kia, tay cầm gươm và khiên, mang cung và ống tên, đi vào chiến trường đã được dàn trận. Người ấy nỗ lực, cố gắng trong chiến trường ấy. Khi người ấy đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ địch đâm chém. (Đồng đội) mang người ấy đi; sau khi mang đi, họ đưa đến cho thân quyến. Thân quyến của người ấy chăm sóc, phục vụ. Người ấy, trong khi được thân quyến chăm sóc, phục vụ, đã mệnh chung vì chính vết thương ấy. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng hạng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ ba, ví như người chiến sĩ, đang có mặt giữa các Tỳ khưu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ; api ca kho sampahāre haññati byāpajjati. Kimassa sampahārasmiṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā abhinisīdati abhinipajjati ajjhottharati. So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati. Idamassa sampahārasmiṁ.
Furthermore, one monk can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest and turmoil, but he’s killed or injured when blows are struck. What is his ‘blows are struck’? It’s when a mendicant who has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut is approached by a lady. She sits right by him, lies down, or embraces him. Without resigning the training and declaring his inability to continue, he indulges in sex. This is his ‘blows are struck’.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, có vị Tỳ khưu sống nương vào một ngôi làng hoặc một thị trấn nào đó. Vị ấy vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào chính ngôi làng hoặc thị trấn ấy để khất thực, với thân không được phòng hộ, với lời nói không được phòng hộ, với tâm không được phòng hộ, với niệm không được an trú, với các căn không được thu thúc. Vị ấy ở đó thấy một người nữ mặc y phục không kín đáo hoặc che đậy không kín đáo. Do thấy người nữ ấy mặc y phục không kín đáo hoặc che đậy không kín đáo, tham ái làm hư hoại tâm của vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham ái làm hư hoại, bị thiêu đốt nơi thân, bị thiêu đốt nơi tâm. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Hay là ta nên đi về tu viện và thưa với các Tỳ khưu rằng: “Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái xâm chiếm, bị tham ái chế ngự. Tôi không thể duy trì phạm hạnh. Sau khi tuyên bố sự yếu kém trong học giới, tôi sẽ từ bỏ học giới và hoàn tục.”’. Vị ấy đi về tu viện và thưa với các Tỳ khưu: ‘Thưa các hiền giả, tôi bị tham ái xâm chiếm, bị tham ái chế ngự. Tôi không thể duy trì phạm hạnh. Sau khi tuyên bố sự yếu kém trong học giới, tôi sẽ từ bỏ học giới và hoàn tục.’
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, api ca kho sampahāre haññati byāpajjati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
I say that this individual is like the warrior who can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest and turmoil, but is killed or injured when blows are struck. Some individuals are like that. This is the fourth individual similar to a warrior found among the monks.
“Này các Tỳ khưu, ví như người lính chiến ấy có thể chịu đựng được bụi tung lên, chịu đựng được ngọn cờ, chịu đựng được tiếng hò hét, nhưng khi giao chiến, vị ấy bị thương và bị thất bại. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người như vậy. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ tư tương tự người lính chiến, có mặt và hiện hữu giữa các Tỳ khưu.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati. Kimassa saṅgāmavijayasmiṁ?
Furthermore, one monk can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest and turmoil, and being struck. He wins victory in battle, establishing himself as foremost in battle. What is his ‘victory in battle’?
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu chịu đựng được bụi tung lên, chịu đựng được ngọn cờ, chịu đựng được tiếng hò hét, chịu đựng được sự giao chiến. Vị ấy, sau khi chiến thắng trận chiến đó, là người chiến thắng, đã chiếm lĩnh ngay đầu trận địa. Sự chiến thắng của vị ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, một người nữ tìm đến vị Tỳ khưu đang ở trong rừng, hoặc dưới gốc cây, hoặc trong ngôi nhà trống, rồi ngồi sát bên, nằm sát bên, và đè lên trên. Vị ấy, khi bị người nữ ngồi sát bên, nằm sát bên, và đè lên trên, đã gỡ mình ra, tự giải thoát, và đi đến bất cứ nơi nào mình muốn. Vị ấy tìm đến trú xứ thanh vắng: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, lùm cây trong rừng, ngoài trời, hoặc đống rơm.”
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu chịu đựng được bụi tung lên, chịu đựng được ngọn cờ, chịu đựng được tiếng hò hét; nhưng khi giao chiến, vị ấy bị thương và bị thất bại. Sự giao chiến đối với vị ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, một người nữ tìm đến vị Tỳ khưu đang ở trong rừng, hoặc dưới gốc cây, hoặc trong ngôi nhà trống, rồi ngồi sát bên, nằm sát bên, và đè lên trên. Vị ấy, khi bị người nữ ngồi sát bên, nằm sát bên, và đè lên trên, đã không từ bỏ học giới, không bộc lộ sự yếu kém, mà thực hành pháp dâm dục. Đây chính là sự giao chiến đối với vị ấy.”
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti; byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati, sabbapāṇabhūtahitānukampī byāpādapadosā cittaṁ parisodheti; thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti; uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti; vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti. So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, he sits down cross-legged, sets his body straight, and brings mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, he meditates with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, he meditates with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, he meditates with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, he meditates without restlessness, his mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, he meditates having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt. He gives up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
“Vị ấy, đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an lập chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm không tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân độc, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương xót đến lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình, gột sạch tâm khỏi sân độc. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với tâm nội tĩnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi. Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, ly dục... (v.v.)... do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc và xả khổ, do diệt trừ hỷ và ưu đã có từ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Idamassa saṅgāmavijayasmiṁ.
When his mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—he extends it toward knowledge of the ending of defilements. He truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. He truly understands: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, his mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When he’s freed, he knows he’s freed.
He understands: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ This is his ‘victory in battle’.
Vị ấy, khi tâm được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, bèn hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ tập.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ diệt.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc.’ Tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.’ Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy tuệ tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Đây là sự chiến thắng trong trận chiến của vị ấy.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti. Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Pañcamaṁ.
I say that this individual is like the warrior who can prevail over a cloud of dust and a banner’s crest and turmoil and being struck. He wins victory in battle, establishing himself as foremost in battle. Some individuals are like that. This is the fifth individual similar to a warrior found among the monks.
These five individuals similar to warriors are found among the monks.”
Này các Tỳ khưu, ví như người chiến sĩ kia có thể chịu đựng được bụi bay, chịu đựng được ngọn cờ, chịu đựng được tiếng hò hét, chịu đựng được sự đụng độ. Vị ấy, sau khi chiến thắng trận chiến, đã chinh phục chiến trường, bèn làm chủ ngay tại đầu mặt trận. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng người này cũng giống như vậy. Này các Tỳ khưu, ở đây có hạng người như thế. Này các Tỳ khưu, đây là hạng người thứ năm, ví như người chiến sĩ, đang hiện hữu có mặt giữa các Tỳ khưu. Này các Tỳ khưu, năm hạng người ví như người chiến sĩ này đang hiện hữu có mặt giữa các Tỳ khưu.” Hết phẩm thứ năm.