- Aṅguttara Nikāya 5.74
- 8. Yodhājīvavagga
Bản dịch
AN 5.74 — Sống Theo Pháp (2)
Dutiyadhammavihārīsutta
TTC 1Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—“Sống theo pháp, sống theo pháp”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là vị Tỷ-kheo sống theo pháp?
TTC 2—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bốn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng, nhưng không rõ biết mục đích tối thượng với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo học thuộc lòng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
TTC 3Lại nữa, đây các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã học thuộc lòng, nhưng không rõ biết mục đích tối thượng với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, nhưng không rõ biết mục đích tối thượng với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như được nghe, như đã được học thuộc lòng, nhưng không rõ biết mục đích tối thượng với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng, và biết mục đích tối thượng với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống theo pháp.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, như vậy Ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về đọc tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo pháp. Này các Tỷ-kheo, điều gì bậc Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này các Tỷ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau phải hối tiếc. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Thầy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.74
- 8. Warriors
One Who Lives by the Teaching (2nd)
4. Kinh Người Sống Với Pháp Thứ Hai
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘dhammavihārī, dhammavihārī’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu dhammavihārī hotī”ti?
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of ‘one who lives by the teaching’. How is a mendicant who lives by the teaching defined?”
74. Rồi một vị Tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, người ta nói: 'người sống với Pháp, người sống với Pháp'. Bạch Thế Tôn, với mức độ nào, một vị Tỳ khưu được gọi là người sống với Pháp?'
“Idha, bhikkhu, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ; uttari cassa paññāya atthaṁ nappajānāti.
“Mendicant, take a mendicant who memorizes the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. But they don’t understand the higher meaning.
Này Tỳ khưu, ở đây, có vị Tỳ khưu học thuộc lòng Pháp: Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ ngôn, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng; và hơn nữa, vị ấy không hiểu rõ ý nghĩa của Pháp ấy bằng trí tuệ. Này Tỳ khưu, vị này được gọi là 'vị Tỳ khưu chuyên về học thuộc lòng', chứ không phải là người sống với Pháp.
Puna caparaṁ, bhikkhu, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, uttari cassa paññāya atthaṁ nappajānāti. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu paññattibahulo, no dhammavihārī’.
Furthermore, a mendicant teaches Dhamma in detail to others as they learned and memorized it. But they don’t understand the higher meaning. That mendicant is called one who advocates a lot, not one who lives by the teaching.
Lại nữa, này Tỳ khưu, có vị Tỳ khưu thuyết giảng Pháp một cách rộng rãi cho người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, và hơn nữa, vị ấy không hiểu rõ ý nghĩa của Pháp ấy bằng trí tuệ. Này Tỳ khưu, vị này được gọi là 'vị Tỳ khưu chuyên về thuyết giảng', chứ không phải là người sống với Pháp.
Puna caparaṁ, bhikkhu, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti, uttari cassa paññāya atthaṁ nappajānāti. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu sajjhāyabahulo, no dhammavihārī’.
Furthermore, a mendicant rehearses the teaching in detail as they learned and memorized it. But they don’t understand the higher meaning. That mendicant is called one who rehearses a lot, not one who lives by the teaching.
Lại nữa, này Tỳ khưu, có vị Tỳ khưu tụng đọc Pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, và hơn nữa, vị ấy không hiểu rõ ý nghĩa của Pháp ấy bằng trí tuệ. Này Tỳ khưu, vị này được gọi là 'vị Tỳ khưu chuyên về tụng đọc', chứ không phải là người sống với Pháp.
Puna caparaṁ, bhikkhu, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati, uttari cassa paññāya atthaṁ nappajānāti. Ayaṁ vuccati, bhikkhu: ‘bhikkhu vitakkabahulo, no dhammavihārī’.
Furthermore, a mendicant thinks about and considers the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. But they don’t understand the higher meaning. That mendicant is called one who thinks a lot, not one who lives by the teaching.
Lại nữa, này Tỳ khưu, có vị Tỳ khưu dùng tâm để suy tầm, để quán sát, dùng ý để thẩm xét Pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, và hơn nữa, vị ấy không hiểu rõ ý nghĩa của Pháp ấy bằng trí tuệ. Này Tỳ khưu, vị này được gọi là 'vị Tỳ khưu chuyên về suy tầm', chứ không phải là người sống với Pháp.
Idha, bhikkhu, bhikkhu dhammaṁ pariyāpuṇāti—suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ; uttari cassa paññāya atthaṁ pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhu, bhikkhu dhammavihārī hoti.
Take a mendicant who memorizes the teaching—statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations. And they do understand the higher meaning. That’s how a mendicant is one who lives by the teaching.
Này Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu học thuộc lòng Pháp – Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ ngôn, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, và Phương quảng; và hơn thế nữa, vị ấy hiểu rõ ý nghĩa bằng trí tuệ. Này Tỳ khưu, như vậy Tỳ khưu là người sống trong Pháp.
Iti kho, bhikkhu, desito mayā pariyattibahulo, desito paññattibahulo, desito sajjhāyabahulo, desito vitakkabahulo, desito dhammavihārī. Yaṁ kho, bhikkhu, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, bhikkhu, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyatha bhikkhu, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
Catutthaṁ.
So, mendicant, I’ve taught you the one who studies a lot, the one who advocates a lot, the one who rehearses a lot, the one who thinks a lot, and the one who lives by the teaching. Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, mendicant! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
Này Tỳ khưu, như vậy, Ta đã thuyết giảng về người học nhiều, đã thuyết giảng về người trình bày nhiều, đã thuyết giảng về người tụng đọc nhiều, đã thuyết giảng về người suy tư nhiều, đã thuyết giảng về người sống trong Pháp. Này Tỳ khưu, những gì một vị Đạo sư cần làm cho các đệ tử, vì lòng thương tưởng, vì lòng bi mẫn, Ta đã làm cho các ngươi. Này Tỳ khưu, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Hãy thiền định, này Tỳ khưu, chớ có phóng dật, chớ để sau này phải hối hận. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi. Hết kinh thứ tư.