- Aṅguttara Nikāya 5.26
- 3. Pañcaṅgikavagga
Bản dịch
AN 5.26 — Giải Thoát Xứ
Vimuttāyatanasutta
TTC 1—Có năm giải thoát xứ này, này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt đến.
TTC 2Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Tùy theo bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo như thế nào, như thế nào,tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý hoan hỷ, thân được khinh an. Do thân được khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ nhất; ở đấy, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt tới.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Và vị Tỷ-kheo ấy thuyết pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy thuyết pháp rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan sanh nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ hai, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo đọc tụng pháp như vậy, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng, một cách rộng rãi như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về nghĩa và tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ ba, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai trò vị Ðạo Sư, không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng một cách rộng rãi cho người khác. Vị ấy không đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã nghe, như đã được học thuộc lòng. Nhưng vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc tụng. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, do với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã được đọc tụng như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị Tỷ-kheo ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp, nên hân hoan sanh. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ tư, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư hay một vị đồng Phạm hạnh đóng vai vị Ðạo Sư không thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo ấy không thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không đọc tụng pháp ấy một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy không với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý quán sát pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Vị ấy pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng, nhưng vị ấy khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thông đạt với trí tuệ như thế nào, như thế nào, tùy theo như vậy, như vậy, vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp trong pháp ấy. Do vị ấy tín thọ về nghĩa, tín thọ về pháp nên hân hoan. Do hân hoan, nên hỷ sanh… tâm được định tĩnh. Ðây là giải thoát xứ thứ năm, ở đây, vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm… được đạt tới.
TTC 7Có năm giải thoát xứ này, này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, thời tâm chưa giải thoát, được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa đoạn diệt hoàn toàn, đi đến đoạn diệt hoàn toàn, hay vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt, được đạt đến.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.26
- 3. With Five Factors
Opportunities for Freedom
6. Kinh Các Cơ Sở Giải Thoát
“Pañcimāni, bhikkhave, vimuttāyatanāni yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
“Mendicants, there are these five opportunities for freedom. If a mendicant stays diligent, keen, and resolute at these times, their mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.
26. “Này các Tỳ khưu, có năm cơ sở giải thoát này, ở đây vị Tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến.”
Idha, bhikkhave, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī. Yathā yathā, bhikkhave, tassa bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati. Pamuditassa pīti jāyati. Pītimanassa kāyo passambhati. Passaddhakāyo sukhaṁ vedeti. Sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ vimuttāyatanaṁ yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Firstly, the Teacher or a respected spiritual companion teaches Dhamma to a mendicant. In whatever way the Teacher or a respected spiritual companion teaches Dhamma to that mendicant, they always feel inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. This is the first opportunity for freedom. If a mendicant stays diligent, keen, and resolute at this time, their mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.
“Thế nào là năm? Này các Tỳ khưu, ở đây, bậc Đạo Sư thuyết Pháp cho vị Tỳ khưu, hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào khác. Này các Tỳ khưu, khi bậc Đạo Sư thuyết Pháp cho vị Tỳ khưu ấy, hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào khác, tùy theo đó mà vị ấy trở thành người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được Pháp ở trong Pháp ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, cảm nhận được Pháp, hân hoan sanh khởi. Do hân hoan, hỷ sanh khởi. Do ý có hỷ, thân được khinh an. Do thân khinh an, vị ấy cảm giác an lạc. Do có an lạc, tâm được định tĩnh. Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở giải thoát thứ nhất, ở đây vị Tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti. Yathā yathā, bhikkhave, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati. Pamuditassa pīti jāyati. Pītimanassa kāyo passambhati. Passaddhakāyo sukhaṁ vedeti. Sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ vimuttāyatanaṁ yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor a respected spiritual companion teaches Dhamma to a mendicant. But the mendicant teaches Dhamma in detail to others as they learned and memorized it. In whatever way that mendicant teaches Dhamma in detail to others as they learned and memorized it, they always feel inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. This is the second opportunity for freedom. …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, bậc Đạo Sư không thuyết Pháp cho vị Tỳ khưu, cũng không có vị đồng phạm hạnh đáng kính nào khác thuyết Pháp, nhưng vị ấy lại thuyết giảng chi tiết cho người khác về Pháp mà mình đã được nghe, đã được học. Này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu thuyết giảng chi tiết cho người khác về Pháp mà mình đã được nghe, đã được học, tùy theo đó mà vị ấy trở thành người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được Pháp ở trong Pháp ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, cảm nhận được Pháp, hân hoan sanh khởi. Do hân hoan, hỷ sanh khởi. Do ý có hỷ, thân được khinh an. Do thân khinh an, vị ấy cảm giác an lạc. Do có an lạc, tâm được định tĩnh. Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở giải thoát thứ hai, ở đây vị Tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, quyết chí, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách縛 mà chưa từng đạt đến.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti. Yathā yathā, bhikkhave, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati. Pamuditassa pīti jāyati. Pītimanassa kāyo passambhati. Passaddhakāyo sukhaṁ vedeti. Sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ vimuttāyatanaṁ yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino …pe… yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor … the mendicant teaches Dhamma. But the mendicant rehearses the teaching in detail as they learned and memorized it. In whatever way that mendicant rehearses the teaching in detail as they learned and memorized it, they always feel inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. This is the third opportunity for freedom. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng Chánh pháp, cũng không được vị đồng phạm hạnh đáng tôn kính nào thuyết giảng, vị ấy cũng không thuyết giảng lại một cách rộng rãi cho người khác về pháp mà mình đã được nghe, đã được học; tuy nhiên, vị ấy lại tụng đọc một cách rộng rãi về pháp mà mình đã được nghe, đã được học. Này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu tụng đọc một cách rộng rãi về pháp mà mình đã được nghe, đã được học, thì theo đó, vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp ở trong pháp ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp, sự hân hoan sanh khởi. Khi đã hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân được an tịnh. Khi thân đã an tịnh, vị ấy cảm thọ lạc. Khi có lạc, tâm được định tĩnh. Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở giải thoát thứ ba, nơi mà vị Tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm... cho đến... đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti; api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati. Yathā yathā, bhikkhave, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati. Pamuditassa pīti jāyati. Pītimanassa kāyo passambhati. Passaddhakāyo sukhaṁ vedeti. Sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ vimuttāyatanaṁ yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor … the mendicant teaches Dhamma … nor does the mendicant rehearse the teaching. But the mendicant thinks about and considers the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. In whatever way that mendicant thinks about and considers the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it, they always feel inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. This is the fourth opportunity for freedom. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng Chánh pháp, cũng không được vị đồng phạm hạnh đáng tôn kính nào thuyết giảng, vị ấy cũng không thuyết giảng lại một cách rộng rãi cho người khác về pháp mà mình đã được nghe, đã được học, cũng không tụng đọc một cách rộng rãi về pháp mà mình đã được nghe, đã được học; tuy nhiên, vị ấy lại suy tầm, tứ sát, và quán xét bằng ý về pháp mà mình đã được nghe, đã được học. Này các Tỳ khưu, khi vị Tỳ khưu suy tầm, tứ sát, và quán xét bằng ý về pháp mà mình đã được nghe, đã được học, thì theo đó, vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp ở trong pháp ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp, sự hân hoan sanh khởi. Khi đã hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân được an tịnh. Khi thân đã an tịnh, vị ấy cảm thọ lạc. Khi có lạc, tâm được định tĩnh. Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở giải thoát thứ tư, nơi mà vị Tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm, có tinh cần, đang trú ngụ, thì tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, hoặc sẽ đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược mà trước đây chưa đạt đến.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati; api ca khvassa aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya. Yathā yathā, bhikkhave, bhikkhuno aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati. Pamuditassa pīti jāyati. Pītimanassa kāyo passambhati. Passaddhakāyo sukhaṁ vedeti. Sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ, bhikkhave, pañcamaṁ vimuttāyatanaṁ yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor … the mendicant teaches Dhamma … nor does the mendicant rehearse the teaching … or think about it. But a meditation subject as a basis of immersion is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom. In whatever way a mendicant’s meditation subject as a basis of immersion is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom, they always feel inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. This is the fifth opportunity for freedom. …
Này các Tỳ khưu, lại nữa, vị Tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng Chánh pháp, cũng không được vị đồng phạm hạnh đáng tôn kính nào thuyết giảng, vị ấy cũng không thuyết giảng lại một cách rộng rãi cho người khác về pháp mà mình đã được nghe, đã được học, cũng không tụng đọc một cách rộng rãi về pháp mà mình đã được nghe, đã được học, cũng không suy tầm, tứ sát, và quán xét bằng ý về pháp mà mình đã được nghe, đã được học; tuy nhiên, một định tướng nào đó đã được vị ấy khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo ghi nhớ, và khéo thể nhập bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, khi một định tướng nào đó đã được vị Tỳ khưu khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo ghi nhớ, và khéo thể nhập bằng trí tuệ, thì theo đó, vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp ở trong pháp ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp, sự hân hoan sanh khởi. Khi đã hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân được an tịnh. Khi thân đã an tịnh, vị ấy cảm thọ lạc. Khi có lạc, tâm được định tĩnh. Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở giải thoát thứ năm, nơi mà vị Tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm, có tinh cần, đang trú ngụ, thì tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, hoặc sẽ đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược mà trước đây chưa đạt đến.
Imāni kho, bhikkhave, pañca vimuttāyatanāni yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
These are the five opportunities for freedom. If a mendicant stays diligent, keen, and resolute at these times, their mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.”
Này các Tỳ khưu, đây chính là năm cơ sở giải thoát, nơi mà vị Tỳ khưu không dể duôi, nhiệt tâm, có tinh cần, đang trú ngụ, thì tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, hoặc sẽ đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược mà trước đây chưa đạt đến. (Kinh thứ) sáu.