- Aṅguttara Nikāya 5.167
- 17. Āghātavagga
Codanāsutta
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Katame pañca?
Bản dịch
Codanāsutta
TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả, khi Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội. Thế nào là năm?
TTC 2“Tôi sẽ nói đúng thời, không phải phi thời”; “Tôi sẽ nói chơn thật, không phải phi chơn thật”; “Tôi sẽ nói nhu hòa, không phải thô bạo”; “Tôi sẽ nói lời liên hệ đến lợi ích, không phải lời không liên hệ đến lợi ích”; “Tôi sẽ nói với từ tâm, không phải với sân tâm”.
Này các Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội người khác.
TTC 3Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội phi thời, nhưng phản ứng không đúng thời; có người bị buộc tội phi chơn thạt và có phản ứng không chơn thật; bị buộc tội thô bạo và có phản ứng không nhu hòa; bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích và có phản ứng không liên hệ đến lợi ích; bị buộc tội với sân tâm và có phản ứng không có từ tâm.
TTC 4Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do không cần sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội phi thời, không đúng thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội phi chơn thật, không phải chơn thật, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tôi không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả không sám hối”.
Tỷ-kheo bị buộc tội một cách phi pháp, có năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối.
TTC 5Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do cần sắp đặt sám hối: “Hiền giả đã buộc tội phi thời, không phải đúng thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội phi chơn, không phải chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội một cách thô bạo, không có nhu hòa, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Tôn giả đã buộc tôi liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”; “Hiền giả đã buộc tội với sân tâm, không với từ tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả sám hối”.
Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, này các Hiền giả, có năm lý do này cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì rằng nhờ vậy không một Tỷ-kheo nào khác nghĩ rằng có thể buộc tội phi chơn thật.
TTC 6Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội đúng thời, không phản ứng phi thời; bị buộc tội chơn thật, không phản ứng phi chơn thật; bị buộc tội nhu hòa, không phản ứng thô bạo; bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phản ứng không liên hệ đến lợi ích, bị buộc tội với từ tâm, không phản ứng với sân tâm.
TTC 7Tỷ-kheo, này các Hiền giả, bị buộc tội đúng pháp có năm lý do cần phải sắp đặt sám hối: “Tôn giả bị buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội nhu hòa không thô bạo, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”; “Tôn giả bị buộc tội với từ tâm, không phải với sân tâm, như vậy vừa đủ để Tôn giả sám hối”.
Tỷ-kheo bị buộc tội đúng pháp có năm lý do này, cần phải sắp đặt sám hối.
TTC 8Tỷ-kheo, này các Hiền giả, buộc tội đúng pháp có năm lý do để không phải sắp đặt sám hối: “Hiền giả buộc tội đúng thời, không phải phi thời, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội chơn thực, không phải phi chơn thực, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội nhu hoà, không phải thô bạo, như vậy vừa đủ để hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội không liên hệ đến lợi ích, không phải liên hệ đến lợi ích, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”; “Hiền giả bị buộc tội với từ tâm, không với sân tâm, như vậy vừa đủ để Hiền giả không sám hối”.
Này các Hiền giả, Tỷ-kheo buộc tội đúng pháp, do năm lý do này không cần phải sắp đặt sám hối. Vì sao? Vì nhờ vậy, các Tỷ-kheo khác nghĩ rằng buộc tội cần phải đúng pháp.
TTC 9Người bị buộc tội, thưa các Hiền giả, cần phải an trú trong hai pháp: chơn thực và bất động. Này các Hiền giả, nếu các người khác buộc tội tôi, đúng thời hay phi thời, chơn thật hay phi chơn thật, nhu hòa hay thô bạo, liên hệ đến lợi ích hay không liên hệ đến lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm, thì cần phải an trú trong hai pháp: Chơn thực và bất động. Nếu tôi biết: “Pháp này có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “có”, tôi sẽ nói: “Pháp này có trong tôi”. Nếu tôi biết: “Pháp này không có trong tôi”, nếu tôi nghĩ là “không có”, tôi sẽ nói: “Pháp này không có trong tôi”.
TTC 10Thế Tôn nói:
—Như vậy này Sàriputta, khi Thầy nói như vậy, ở đây có một số người ngu nào không có khả năng nắm được vấn đề?
TTC 11—Bạch Thế Tôn, những người nào không có lòng tin, với mục đích mưu sống, không vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình; sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói thô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; khi con nói như vậy, họ không có khả năng nắm được vấn đề. Nhưng các thiện nam tử, bạch Thế Tôn, vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng. Khi con nói như vậy, các vị này có khả năng nắm giữ vấn đề.
TTC 12—Này Sàriputta, các người nào không vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, lắm lời, nói thô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng, viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng, hãy để họ một bên. Nhưng này Sàriputta, những thiện nam tử, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói thô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, không sống quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, siêng năng, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí tuệ, không câm ngọng, hãy nói chuyện với họ. Hãy giáo giới các vị đồng Phạm hạnh, hãy giảng dạy, này Sàriputta, các vị đồng Phạm hạnh nghĩ rằng: “Sau khi giúp ra khỏi phi diệu pháp, tôi an trú các vị đồng Phạm hạnh trong diệu pháp”. Này Sariputta hãy như vậy học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Katame pañca?
There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, a mendicant who wants to accuse another should first establish five things in themselves.
What five?
167. Khi ấy, tôn giả Sāriputta gọi các tỳ khưu: “Này chư hiền, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi thiết lập năm pháp trong nội tâm mình, rồi mới nên khiển trách người khác.”
“Năm pháp ấy là gì? ‘Ta sẽ nói đúng lúc, không nói phi thời; ta sẽ nói đúng sự thật, không nói sai sự thật; ta sẽ nói lời nhu hòa, không nói lời thô ác; ta sẽ nói lời có lợi ích, không nói lời vô ích; ta sẽ nói với tâm từ, không nói với tâm sân.’ Này chư hiền, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi thiết lập năm pháp này trong nội tâm mình, rồi mới nên khiển trách người khác.
Idhāhaṁ, āvuso, ekaccaṁ puggalaṁ passāmi akālena codiyamānaṁ no kālena kupitaṁ, abhūtena codiyamānaṁ no bhūtena kupitaṁ, pharusena codiyamānaṁ no saṇhena kupitaṁ, anatthasaṁhitena codiyamānaṁ no atthasaṁhitena kupitaṁ, dosantarena codiyamānaṁ no mettacittena kupitaṁ.
Take a case where I see a certain individual being accused at the wrong time, not being disturbed at the right time. They’re accused falsely, not disturbed truthfully. They’re accused harshly, not disturbed gently. They’re accused harmfully, not disturbed beneficially. They’re accused with secret hate, not disturbed lovingly.
“Này chư hiền, ở đây ta thấy có hạng người, khi bị khiển trách phi thời chứ không phải đúng lúc, liền nổi sân; khi bị khiển trách sai sự thật chứ không phải đúng sự thật, liền nổi sân; khi bị khiển trách bằng lời thô ác chứ không phải lời nhu hòa, liền nổi sân; khi bị khiển trách bằng lời vô ích chứ không phải lời có lợi ích, liền nổi sân; khi bị khiển trách với tâm sân chứ không phải với tâm từ, liền nổi sân.”
Adhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo: ‘akālenāyasmā cudito no kālena, alaṁ te avippaṭisārāya; abhūtenāyasmā cudito no bhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya; pharusenāyasmā cudito no saṇhena, alaṁ te avippaṭisārāya; anatthasaṁhitenāyasmā cudito no atthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya; dosantarenāyasmā cudito no mettacittena, alaṁ te avippaṭisārāyā’ti. Adhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo.
The mendicant who is accused improperly should be reassured in five ways. ‘Venerable, you were accused at the wrong time, not at the right time. There’s no need for you to feel remorse. You were accused falsely, not truthfully. … You were accused harshly, not gently. … You were accused harmfully, not beneficially. … You were accused with secret hate, not lovingly. There’s no need for you to feel remorse.’ A mendicant who is accused improperly should be reassured in these five ways.
“Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng pháp, nên làm cho phát sinh sự không hối hận bằng năm cách: ‘Tôn giả bị khiển trách phi thời, không phải đúng lúc, thế là đủ để ngài không hối hận; Tôn giả bị khiển trách sai sự thật, không phải đúng sự thật, thế là đủ để ngài không hối hận; Tôn giả bị khiển trách bằng lời thô ác, không phải lời nhu hòa, thế là đủ để ngài không hối hận; Tôn giả bị khiển trách bằng lời vô ích, không phải lời có lợi ích, thế là đủ để ngài không hối hận; Tôn giả bị khiển trách với tâm sân, không phải với tâm từ, thế là đủ để ngài không hối hận.’ Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng pháp, nên làm cho phát sinh sự không hối hận bằng năm cách này.”
Adhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo: ‘akālena te, āvuso, codito no kālena, alaṁ te vippaṭisārāya; abhūtena te, āvuso, codito no bhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya; pharusena te, āvuso, codito no saṇhena, alaṁ te vippaṭisārāya; anatthasaṁhitena te, āvuso, codito no atthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya; dosantarena te, āvuso, codito no mettacittena, alaṁ te vippaṭisārāyā’ti. Adhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo. Taṁ kissa hetu? Yathā na aññopi bhikkhu abhūtena codetabbaṁ maññeyyāti.
The mendicant who makes improper accusations should be chastened in five ways. ‘Reverend, you made an accusation at the wrong time, not at the right time. There’s a reason for you to feel remorse. You made an accusation falsely, not truthfully. … You made an accusation harshly, not gently. … You made an accusation harmfully, not beneficially. … You made an accusation with secret hate, not lovingly. There’s a reason for you to feel remorse.’ The mendicant who makes improper accusations should be chastened in these five ways. Why is that? So that another mendicant wouldn’t think to make a false accusation.
“Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu khiển trách không đúng pháp, nên làm cho phát sinh sự hối hận bằng năm cách: ‘Này hiền giả, hiền giả đã khiển trách phi thời, không phải đúng lúc, thế là đủ để hiền giả hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã khiển trách sai sự thật, không phải đúng sự thật, thế là đủ để hiền giả hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã khiển trách bằng lời thô ác, không phải lời nhu hòa, thế là đủ để hiền giả hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã khiển trách bằng lời vô ích, không phải lời có lợi ích, thế là đủ để hiền giả hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã khiển trách với tâm sân, không phải với tâm từ, thế là đủ để hiền giả hối hận.’ Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu khiển trách không đúng pháp, nên làm cho phát sinh sự hối hận bằng năm cách này. Vì sao vậy? Để vị tỳ khưu khác không nghĩ rằng nên khiển trách sai sự thật.”
Idha panāhaṁ, āvuso, ekaccaṁ puggalaṁ passāmi kālena codiyamānaṁ no akālena kupitaṁ, bhūtena codiyamānaṁ no abhūtena kupitaṁ, saṇhena codiyamānaṁ no pharusena kupitaṁ, atthasaṁhitena codiyamānaṁ no anatthasaṁhitena kupitaṁ, mettacittena codiyamānaṁ no dosantarena kupitaṁ.
Take a case where I see a certain individual being accused at the right time, not being disturbed at the wrong time. They’re accused truthfully, not disturbed falsely. They’re accused gently, not disturbed harshly. They’re accused beneficially, not disturbed harmfully. They’re accused lovingly, not disturbed with secret hate.
“Này chư hiền, lại nữa, ở đây ta thấy có hạng người, khi bị khiển trách đúng lúc chứ không phải phi thời, liền nổi sân; khi bị khiển trách đúng sự thật chứ không phải sai sự thật, liền nổi sân; khi bị khiển trách bằng lời nhu hòa chứ không phải lời thô ác, liền nổi sân; khi bị khiển trách bằng lời có lợi ích chứ không phải lời vô ích, liền nổi sân; khi bị khiển trách với tâm từ chứ không phải với tâm sân, liền nổi sân.”
Dhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo: ‘kālenāyasmā cudito no akālena, alaṁ te vippaṭisārāya; bhūtenāyasmā cudito no abhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya; saṇhenāyasmā cudito no pharusena, alaṁ te vippaṭisārāya; atthasaṁhitenāyasmā cudito no anatthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya; mettacittenāyasmā cudito no dosantarena, alaṁ te vippaṭisārāyā’ti. Dhammacuditassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo.
The mendicant who is accused properly should be chastened in five ways. ‘Venerable, you were accused at the right time, not at the wrong time. There’s a reason for you to feel remorse. You were accused truthfully, not falsely. … You were accused gently, not harshly. … You were accused beneficially, not harmfully. … You were accused lovingly, not with secret hate. There’s a reason for you to feel remorse.’ The mendicant who is accused properly should be chastened in these five ways.
“Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách đúng pháp, nên làm cho phát sinh sự hối hận bằng năm cách: ‘Tôn giả bị khiển trách đúng lúc, không phải phi thời, thế là đủ để ngài hối hận; Tôn giả bị khiển trách đúng sự thật, không phải sai sự thật, thế là đủ để ngài hối hận; Tôn giả bị khiển trách bằng lời nhu hòa, không phải lời thô ác, thế là đủ để ngài hối hận; Tôn giả bị khiển trách bằng lời có lợi ích, không phải lời vô ích, thế là đủ để ngài hối hận; Tôn giả bị khiển trách với tâm từ, không phải với tâm sân, thế là đủ để ngài hối hận.’ Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách đúng pháp, nên làm cho phát sinh sự hối hận bằng năm cách này.”
Dhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo: ‘kālena te, āvuso, codito no akālena, alaṁ te avippaṭisārāya; bhūtena te, āvuso, codito no abhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya; saṇhena te, āvuso, codito no pharusena, alaṁ te avippaṭisārāya; atthasaṁhitena te, āvuso, codito no anatthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya; mettacittena te, āvuso, codito no dosantarena, alaṁ te avippaṭisārāyā’ti. Dhammacodakassa, āvuso, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo. Taṁ kissa hetu? Yathā aññopi bhikkhu bhūtena coditabbaṁ maññeyyāti.
The mendicant who makes proper accusations should be reassured in five ways. ‘Reverend, you made an accusation at the right time, not at the wrong time. There’s no need for you to feel remorse. You made an accusation truthfully, not falsely. … You made an accusation gently, not harshly. … You made an accusation beneficially, not harmfully. … You made an accusation lovingly, not with secret hate. There’s no need for you to feel remorse.’ The mendicant who makes proper accusations should be reassured in these five ways. Why is that? So that another mendicant would think to make a true accusation.
Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu chất vấn đúng Pháp, cần phải làm cho vị ấy không hối hận bằng năm cách: 'Này hiền giả, hiền giả đã chất vấn đúng thời, không phải phi thời, hiền giả không có gì phải hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã chất vấn bằng sự thật, không phải không thật, hiền giả không có gì phải hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã chất vấn bằng lời nhu hòa, không phải thô bạo, hiền giả không có gì phải hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã chất vấn bằng lời có lợi ích, không phải không lợi ích, hiền giả không có gì phải hối hận; Này hiền giả, hiền giả đã chất vấn với tâm từ, không phải với tâm sân, hiền giả không có gì phải hối hận'. Này chư hiền, đối với vị tỳ khưu chất vấn đúng Pháp, cần phải làm cho vị ấy không hối hận bằng năm cách này. Vì sao vậy? Để vị tỳ khưu khác cũng nghĩ rằng nên chất vấn bằng sự thật.
Cuditena, āvuso, puggalena dvīsu dhammesu patiṭṭhātabbaṁ—sacce ca, akuppe ca. Mañcepi, āvuso, pare codeyyuṁ kālena vā akālena vā bhūtena vā abhūtena vā saṇhena vā pharusena vā atthasaṁhitena vā anatthasaṁhitena vā mettacittā vā dosantarā vā, ahampi dvīsuyeva dhammesu patiṭṭhaheyyaṁ—sacce ca, akuppe ca. Sace jāneyyaṁ: ‘attheso mayi dhammo’ti, ‘atthī’ti naṁ vadeyyaṁ: ‘saṁvijjateso mayi dhammo’ti. Sace jāneyyaṁ: ‘nattheso mayi dhammo’ti, ‘natthī’ti naṁ vadeyyaṁ: ‘neso dhammo mayi saṁvijjatī’”ti.
An individual who is accused should ground themselves in two things: truth and an even temper. Even if others accuse me—at the right time or the wrong time, truthfully or falsely, gently or harshly, beneficially or harmfully, lovingly or with secret hate—I will still ground myself in two things: truth and an even temper. If I know that that quality is found in me, I will tell them that it is. If I know that that quality is not found in me, I will tell them that it is not.”
Này chư hiền, người bị chất vấn cần phải an trú trong hai pháp: trong sự thật và trong sự không tức giận. Này chư hiền, nếu những người khác chất vấn tôi, dù đúng thời hay phi thời, dù bằng sự thật hay không thật, dù bằng lời nhu hòa hay thô bạo, dù bằng lời có lợi ích hay không lợi ích, dù với tâm từ hay với tâm sân, tôi cũng sẽ an trú trong hai pháp ấy: trong sự thật và trong sự không tức giận. Nếu tôi biết: 'Pháp này có nơi tôi', tôi sẽ nói với người ấy rằng: 'Có', 'Pháp này có hiện hữu nơi tôi'. Nếu tôi biết: 'Pháp này không có nơi tôi', tôi sẽ nói với người ấy rằng: 'Không có', 'Pháp này không hiện hữu nơi tôi'.
“Evampi kho te, sāriputta, vuccamānā atha ca panidhekacce moghapurisā na padakkhiṇaṁ gaṇhantī”ti.
“Even when you speak like this, Sāriputta, there are still some futile people here who do not respectfully take it up.”
Này Sāriputta, dù được nói như vậy, nhưng ở đây có một số kẻ ngu si không tiếp nhận một cách trân trọng.
“Ye te, bhante, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, te mayā evaṁ vuccamānā na padakkhiṇaṁ gaṇhanti.
“Sir, there are those faithless individuals who went forth from the lay life to homelessness not out of faith but to earn a livelihood. They’re devious, deceitful, and sneaky. They’re haughty, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They do not guard their sense doors or eat in moderation, and they are not dedicated to wakefulness. They don’t care about the ascetic life, and don’t keenly respect the training. They’re indulgent and slack, leaders in backsliding, neglecting seclusion, lazy, and lacking energy. They’re unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds, witless and idiotic. When I speak to them like this, they don’t respectfully take it up.
Bạch Thế Tôn, những người không có đức tin, xuất gia từ bỏ gia đình không phải vì đức tin mà vì sinh kế, là những kẻ xảo trá, lừa đảo, gian xảo, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, lời nói phân tán, không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm tỉnh thức, không quan tâm đến sa-môn hạnh, không hết lòng tôn trọng học pháp, sống xa hoa, sống buông thả, đi đầu trong việc thoái đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, lười biếng, tinh tấn thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, trí tuệ yếu kém, câm ngọng; những người ấy, khi được con nói như vậy, không tiếp nhận một cách trân trọng.
Ye pana te, bhante, kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā na bāhulikā na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te mayā evaṁ vuccamānā padakkhiṇaṁ gaṇhantī”ti.
Sir, there are those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith. They’re not devious, deceitful, and sneaky. They’re not haughty, insolent, fickle, scurrilous, and loose-tongued. They guard their sense doors and eat in moderation, and they are dedicated to wakefulness. They care about the ascetic life, and keenly respect the training. They’re not indulgent or slack, nor are they leaders in backsliding, neglecting seclusion. They’re energetic and determined. They’re mindful, with situational awareness, immersion, and unified minds; wise and clever. When I speak to them like this, they do respectfully take it up.”
Còn bạch Thế Tôn, những thiện nam tử có đức tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, là những người không xảo trá, không lừa đảo, không gian xảo, không trạo cử, không kiêu mạn, không dao động, không lắm lời, lời nói không phân tán, phòng hộ các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh thức, quan tâm đến sa-môn hạnh, hết lòng tôn trọng học pháp, không sống xa hoa, không sống buông thả, từ bỏ gánh nặng thoái đọa, đi đầu trong việc viễn ly, tinh tấn, nỗ lực, tâm đã được hướng đến, chánh niệm được thiết lập, có tỉnh giác, có định tĩnh, tâm chuyên nhất, có trí tuệ, không câm ngọng; những người ấy, khi được con nói như vậy, tiếp nhận một cách trân trọng.
“Ye te, sāriputta, puggalā assaddhā jīvikatthā na saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā saṭhā māyāvino ketabino uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā indriyesu aguttadvārā bhojane amattaññuno jāgariyaṁ ananuyuttā sāmaññe anapekkhavanto sikkhāya na tibbagāravā bāhulikā sāthalikā okkamane pubbaṅgamā paviveke nikkhittadhurā kusītā hīnavīriyā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā duppaññā eḷamūgā, tiṭṭhantu te.
“Sāriputta, those faithless individuals who went forth from the lay life to homelessness not out of faith but to earn a livelihood … Leave them be.
Này Sāriputta, những người không có đức tin, xuất gia từ bỏ gia đình không phải vì đức tin mà vì sinh kế, là những kẻ xảo trá, lừa đảo, gian xảo, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, lời nói phân tán, không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, không chuyên tâm tỉnh thức, không quan tâm đến sa-môn hạnh, không hết lòng tôn trọng học pháp, sống xa hoa, sống buông thả, đi đầu trong việc thoái đọa, từ bỏ gánh nặng viễn ly, lười biếng, tinh tấn thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, trí tuệ yếu kém, câm ngọng; hãy để họ qua một bên.
Ye pana te, sāriputta, kulaputtā saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā asaṭhā amāyāvino aketabino anuddhatā anunnaḷā acapalā amukharā avikiṇṇavācā indriyesu guttadvārā bhojane mattaññuno jāgariyaṁ anuyuttā sāmaññe apekkhavanto sikkhāya tibbagāravā na bāhulikā na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā āraddhavīriyā pahitattā upaṭṭhitassatino sampajānā samāhitā ekaggacittā paññavanto aneḷamūgā, te tvaṁ, sāriputta, vadeyyāsi. Ovada, sāriputta, sabrahmacārī; anusāsa, sāriputta, sabrahmacārī: ‘asaddhammā vuṭṭhāpetvā saddhamme patiṭṭhāpessāmi sabrahmacārī’ti. Evañhi te, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.
But those gentlemen who went forth from the lay life to homelessness out of faith … You should speak to them. Sāriputta, you should advise your spiritual companions! You should instruct your spiritual companions! Thinking: ‘I will draw my spiritual companions away from false teachings and ground them in true teachings.’ That’s how you should train.”
Còn này Sāriputta, những thiện nam tử có đức tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, là những người không xảo trá, không lừa đảo, không gian xảo, không trạo cử, không kiêu mạn, không dao động, không lắm lời, lời nói không phân tán, phòng hộ các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh thức, quan tâm đến sa-môn hạnh, hết lòng tôn trọng học pháp, không sống xa hoa, không sống buông thả, từ bỏ gánh nặng thoái đọa, đi đầu trong việc viễn ly, tinh tấn, nỗ lực, tâm đã được hướng đến, chánh niệm được thiết lập, có tỉnh giác, có định tĩnh, tâm chuyên nhất, có trí tuệ, không câm ngọng; này Sāriputta, ngươi hãy nói với họ. Này Sāriputta, hãy khuyên dạy các vị đồng phạm hạnh; này Sāriputta, hãy giáo huấn các vị đồng phạm hạnh rằng: 'Ta sẽ làm cho các vị đồng phạm hạnh đứng dậy từ bỏ phi pháp và an trú vào chánh pháp'. Này Sāriputta, ngươi phải học tập như vậy. (Hết) kinh thứ bảy.