- Aṅguttara Nikāya 5.166
- 17. Āghātavagga
Bản dịch
AN 5.166 — Diệt Thọ Tưởng Ðịnh
Nirodhasutta
TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:…(như trên)…
TTC 2Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào một cách hoàn toàn và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, vị ấy không đạt được chánh trí, thời vị ấy chắc chắn vượt khỏi cộng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.
Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:
—Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta, không có trường hợp này: “Rằng vị Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, vị ấy có thể nhập và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.
Lần thứ hai… Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
—Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, vị ấy không đạt được chánh trí, thời vị ấy chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.
Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:
—Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta: “Không có trường hợp này rằng vị Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, với điều kiện vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.
TTC 3Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Tôn giả Udàyi phản kháng ta và không một Tỷ-kheo nào tùy hỷ ta, vậy ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
—Ở đây, này các chư Hiền, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ… (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra…
Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta:
-—Không có sự kiện này, thưa Hiền giả Sàriputta, không có trường hợp này, rằng: “Tỷ-kheo chắc chắn vượt khỏi cọng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực và được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định”; sự kiện này không xảy ra.
TTC 4Rồi Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Trước mặt Thế Tôn, Tôn giả Udàyi cho đến ba lần phản kháng ta và không một Tỷ-kheo nào tùy hỷ ta, vậy ta hãy im lặng”. Rồi Tôn giả Sàriputta giữ im lặng. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Udàyi:
—Này Udàyi, Thầy đi đến kết luận ai có thân do ý làm ra?
—Bạch Thế Tôn, có Chư Thiên vô sắc, do tưởng làm ra.
—Này Udàyi, Thầy nghĩ thế nào mà nói lên câu nói của kẻ ngu, không thông minh sáng suốt?
TTC 5Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
—Này Ananda, các Thầy có thể nhìn một cách thản nhiên khi một Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não như vậy. Này Ananda, lòng từ bi không có thể khởi lên một khi Tỷ-kheo trưởng lão bị làm phiền não! (mà các Thầy không có phản ứng).
Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có thể xảy ra. Nếu ngay trong hiện tại, không thể đạt được chánh trí, vị ấy chắc chắn vượt khỏi cộng trú với chư Thiên, ăn các món ăn đoàn thực, được sanh với thân do ý làm ra, (với điều kiện) vị ấy có thể nhập vào và xuất khỏi Diệt thọ tưởng định; sự kiện này có xảy ra.
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tinh xá.
TTC 6Rồi Tôn giả Ananda, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, đi đến Tôn giả Upavàna, sau khi đến, nói với Tôn giả Upavàna:
—Ở đây, này Hiền giả Upavàna, một số người làm phiền não Tỷ-kheo trưởng lão và chúng ta không ai đặt câu hỏi. Do vậy, thật không có gì kỳ lạ, thưa Hiền giả, rằng Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, nêu lên vấn đề này và sự việc như thế nào, kể lại cho Tôn giả Upavàna nghe tất cả. Nay chúng ta cảm thấy sợ hãi.
TTC 7Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến ngôi giảng đường, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Upanàva:
—Này Upavàna, thành tựu bao nhiêu pháp, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, tôn trọng và noi gương tu tập?
—Bạch Thế Tôn, thành tựu năm pháp, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, thích ý, tôn trọng và được noi gương tu tập. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo trưởng lão giữ giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập các học pháp, nghe nhiều, thọ trì điều được nghe, tích tập điều được nghe. Các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến; thiện ngôn dùng lời thiện ngôn, lời nói tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ, phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, đem đến hiện tại lạc trú. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Thành tựu năm pháp này, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích , tôn trọng và được noi gương tu tập.
TTC 9—Lành thay, lành thay, này Upavàna! Thành tựu năm pháp này, Tỷ-kheo trưởng lão được các đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích , tôn trọng và được noi gương tu tập. Nếu Tỷ-kheo trưởng lão không có được năm pháp này, thời có phải các đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy vì răng rụng, tóc bạc và da nhăn. Do vậy, này Upavana, do năm pháp này có hiện hữu trong Tỷ-kheo trưởng lão, cho nên các đồng Phạm hạnh cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.166
- 17. Resentment
Cessation
6. Kinh Diệt
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi …pe…
“idhāvuso, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānaṁ. No ce diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānan”ti.
There Venerable Sāriputta addressed the mendicants:
“Reverends, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, and wisdom. They might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible. If they don’t reach enlightenment in this very life, then, surpassing the company of gods that consume edible food, they’re reborn in a certain host of mind-made gods. There they might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible.”
166. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta gọi các vị tỳ khưu... Này các hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ, có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định – trường hợp này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không chứng đắc A-la-hán quả ngay trong hiện tại, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của các vị trời dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định – trường hợp này có thể xảy ra.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “aṭṭhānaṁ kho etaṁ, āvuso sāriputta, anavakāso yaṁ so bhikkhu atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—natthetaṁ ṭhānan”ti.
When he said this, Venerable Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”
Khi được nói như vậy, Tôn giả Udāyī nói với Tôn giả Sāriputta điều này: ‘Này hiền giả Sāriputta, việc vị tỳ khưu ấy, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của các vị trời dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định – điều này không phải là lý do, không phải là cơ hội; trường hợp này không thể có.’
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “idhāvuso, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānaṁ. No ce diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānan”ti.
But for a second … and a third time Sāriputta repeated his statement.
Lần thứ hai... lần thứ ba, Tôn giả Sāriputta gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ, có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định – trường hợp này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không chứng đắc A-la-hán quả ngay trong hiện tại, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của các vị trời dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định – trường hợp này có thể xảy ra.’
Tatiyampi kho āyasmā udāyī āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “aṭṭhānaṁ kho etaṁ, āvuso sāriputta, anavakāso yaṁ so bhikkhu atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—natthetaṁ ṭhānan”ti.
And for a third time, Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”
Lần thứ ba, Tôn giả Udāyī nói với Tôn giả Sāriputta điều này: ‘Này hiền giả Sāriputta, việc vị tỳ khưu ấy, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của các vị trời dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định – điều này không phải là lý do, không phải là cơ hội; trường hợp này không thể có.’
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “yāvatatiyakampi kho me āyasmā udāyī paṭikkosati, na ca me koci bhikkhu anumodati. Yannūnāhaṁ yena bhagavā tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“idhāvuso, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānaṁ. No ce diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānan”ti.
Then Venerable Sāriputta thought, “Venerable Udāyī disagrees with me three times, and not one mendicant agrees with me. Why don’t I go to see the Buddha?”
Then Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to the mendicants:
“Reverends, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, and wisdom. They might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible. If they don’t reach enlightenment in this very life, they’re reborn in the company of a certain host of mind-made gods, who surpass the gods that consume edible food. There they might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible.”
Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta khởi lên ý nghĩ này: “Đến lần thứ ba mà Tôn giả Udāyī vẫn phản đối lời của ta, và không có vị tỳ-khưu nào tán đồng lời của ta. Hay là ta nên đi đến chỗ Thế Tôn.” Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta nói với các vị tỳ-khưu: “Này chư hiền, ở đây, vị tỳ-khưu đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không chứng đắc A-la-hán quả ngay trong đời này, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của chư thiên còn dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, vị ấy có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này có thể xảy ra.”
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “aṭṭhānaṁ kho etaṁ, āvuso sāriputta, anavakāso yaṁ so bhikkhu atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—natthetaṁ ṭhānan”ti.
When he said this, Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”
Khi được nói vậy, Tôn giả Udāyī nói với Tôn giả Sāriputta điều này: “Thưa hiền giả Sāriputta, việc này không thể xảy ra, không có cơ hội cho việc vị tỳ-khưu ấy, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của chư thiên còn dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này không thể có.”
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “idhāvuso, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānaṁ. No ce diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānan”ti.
But for a second … and a third time Sāriputta repeated his statement.
Lần thứ hai... Lần thứ ba, Tôn giả Sāriputta lại nói với các vị tỳ-khưu: “Này chư hiền, ở đây, vị tỳ-khưu đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không chứng đắc A-la-hán quả ngay trong đời này, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của chư thiên còn dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, vị ấy có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này có thể xảy ra.”
Tatiyampi kho āyasmā udāyī āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “aṭṭhānaṁ kho etaṁ, āvuso sāriputta, anavakāso yaṁ so bhikkhu atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—natthetaṁ ṭhānan”ti.
And for a third time, Udāyī said to him, “This is not possible, Reverend Sāriputta, it cannot happen!”
Lần thứ ba, Tôn giả Udāyī lại nói với Tôn giả Sāriputta điều này: “Thưa hiền giả Sāriputta, việc này không thể xảy ra, không có cơ hội cho việc vị tỳ-khưu ấy, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của chư thiên còn dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này không thể có.”
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “bhagavatopi kho me sammukhā āyasmā udāyī yāvatatiyakaṁ paṭikkosati, na ca me koci bhikkhu anumodati. Yannūnāhaṁ tuṇhī assan”ti. Atha kho āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
Then Venerable Sāriputta thought, “Even in front of the Buddha Venerable Udāyī disagrees with me three times, and not one mendicant agrees with me. I’d better stay silent.” Then Sāriputta fell silent.
Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta khởi lên ý nghĩ này: “Ngay cả trước mặt Thế Tôn mà Tôn giả Udāyī vẫn phản đối lời của ta đến lần thứ ba, và không có vị tỳ-khưu nào tán đồng lời của ta. Hay là ta nên im lặng.” Rồi Tôn giả Sāriputta đã giữ im lặng.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ udāyiṁ āmantesi: “kaṁ pana tvaṁ, udāyi, manomayaṁ kāyaṁ paccesī”ti?
“Ye te, bhante, devā arūpino saññāmayā”ti.
“Kiṁ nu kho tuyhaṁ, udāyi, bālassa abyattassa bhaṇitena. Tvampi nāma bhaṇitabbaṁ maññasī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “atthi nāma, ānanda, theraṁ bhikkhuṁ vihesiyamānaṁ ajjhupekkhissatha. Na hi nāma, ānanda, kāruññampi bhavissati theramhi bhikkhumhi vihesiyamānamhī”ti.
Then the Buddha said to Venerable Udāyī, “But Udāyī, do you believe in a mind-made body?”
“For those gods, sir, who are formless, made of perception.”
“Udāyī, what has an incompetent fool like you got to say? How on earth could you imagine you’ve got something worth saying!”
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Ānanda! How can you just watch while a senior mendicant is being harassed? Don’t you have any compassion for a senior mendicant who is being harassed?”
Bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Udāyī: “Này Udāyī, ông tin vào loại thân do ý sanh nào?” “Bạch Thế Tôn, đó là các vị trời Vô Sắc, do tưởng sanh.” “Này Udāyī, lời nói của kẻ ngu si, không sáng suốt như ông thì có ích gì! Ông cũng cho rằng mình nên nói hay sao!” Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, sao các ông có thể dửng dưng khi một vị trưởng lão tỳ-khưu đang bị quấy nhiễu như vậy. Này Ānanda, chẳng lẽ lòng bi mẫn cũng không khởi lên khi một vị trưởng lão tỳ-khưu đang bị quấy nhiễu hay sao?”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“idha, bhikkhave, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānaṁ. No ce diṭṭheva dhamme aññaṁ ārādheyya, atikkammeva kabaḷīkārāhārabhakkhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjeyyāpi vuṭṭhaheyyāpi—atthetaṁ ṭhānan”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Then the Buddha addressed the mendicants:
“Mendicants, take a mendicant who is accomplished in ethics, immersion, and wisdom. They might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible. If they don’t reach enlightenment in this very life, they’re reborn in the company of a certain host of mind-made gods, who surpass the gods that consume edible food. There they might enter into and emerge from the cessation of perception and feeling. That is possible.”
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với các vị tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, ở đây, vị tỳ-khưu đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không chứng đắc A-la-hán quả ngay trong đời này, sau khi vượt qua cảnh giới đồng trú của chư thiên còn dùng đoàn thực, sanh vào một thân do ý sanh nào đó, vị ấy có thể nhập và xuất định Diệt Thọ Tưởng – trường hợp này có thể xảy ra.” Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói lời này, bậc Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkantassa bhagavato yenāyasmā upavāṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ upavāṇaṁ etadavoca: “idhāvuso upavāṇa, aññe there bhikkhū vihesenti. Mayaṁ tena na muccāma. Anacchariyaṁ kho, panetaṁ āvuso upavāṇa, yaṁ bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito etadeva ārabbha udāhareyya yathā āyasmantaṁyevettha upavāṇaṁ paṭibhāseyya. Idāneva amhākaṁ sārajjaṁ okkantan”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ etadavoca:
Then, not long after the Buddha had left, Venerable Ānanda went to Venerable Upavāṇa and said to him, “Reverend Upavāṇa, they’ve been harassing other senior mendicants, but I didn’t question them. I wouldn’t be surprised if the Buddha brings this up when he comes out of retreat later this afternoon. He might even call upon Venerable Upavāṇa himself. And right now I feel insecure.”
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out and said to Upavāṇa,
Bấy giờ, không lâu sau khi Thế Tôn rời đi, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Tôn giả Upavāṇa; sau khi đến, Tôn giả nói với Tôn giả Upavāṇa điều này: “Thưa hiền giả Upavāṇa, ở đây, các vị tỳ-khưu khác đang quấy nhiễu các vị trưởng lão. Chúng ta không thoát khỏi trách nhiệm về việc ấy. Thưa hiền giả Upavāṇa, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu vào buổi chiều, sau khi xả thiền, Thế Tôn sẽ đề cập đến chính vấn đề này, và có thể Tôn giả Upavāṇa sẽ là người phải trả lời. Ngay từ bây giờ, chúng tôi đã cảm thấy bối rối.” Rồi vào buổi chiều, sau khi xả thiền, Thế Tôn đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Upavāṇa điều này:
“Pañcahi, bhante, dhammehi samannāgato thero bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca. Katamehi pañcahi?
Idha, bhante, thero bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu;
bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā;
kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā;
catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharati.
Imehi kho, bhante, pañcahi dhammehi samannāgato thero bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo cā”ti.
“Sir, a senior mendicant with five qualities is dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired. What five?
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
They’re a good speaker who enunciates well, with a polished, clear, and articulate voice that expresses the meaning.
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
A senior mendicant with these five qualities is dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired.”
“Này Upavāṇa, vị trưởng lão tỳ khưu thành tựu bao nhiêu pháp thì được các vị đồng phạm hạnh yêu mến, khả ý, đáng kính trọng, và đáng được tán dương?” “Bạch ngài, vị trưởng lão tỳ khưu thành tựu năm pháp thì được các vị đồng phạm hạnh yêu mến, khả ý, đáng kính trọng, và đáng được tán dương. Năm pháp ấy là gì? Bạch ngài, ở đây, vị trưởng lão tỳ khưu có giới... (v.v)... chấp trì và thực hành các học giới; là người đa văn... (v.v)... đã khéo thông đạt bằng trí tuệ; có lời nói tốt đẹp, có cách phát âm tốt đẹp, thành tựu lời nói tao nhã, trong sáng, không ngọng nghịu, có thể làm cho người nghe hiểu rõ ý nghĩa; là người dễ dàng chứng đắc, không khó khăn, không mệt nhọc bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú; do đoạn tận các lậu hoặc... (v.v)... sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã chứng đạt và an trú. Bạch ngài, chính do năm pháp này mà vị trưởng lão tỳ khưu được các vị đồng phạm hạnh yêu mến, khả ý, đáng kính trọng, và đáng được tán dương.”
“Sādhu sādhu, upavāṇa. Imehi kho, upavāṇa, pañcahi dhammehi samannāgato thero bhikkhu sabrahmacārīnaṁ piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca. Ime ce, upavāṇa, pañca dhammā therassa bhikkhuno na saṁvijjeyyuṁ, taṁ sabrahmacārī na sakkareyyuṁ na garuṁ kareyyuṁ na māneyyuṁ na pūjeyyuṁ khaṇḍiccena pāliccena valittacatāya. Yasmā ca kho, upavāṇa, ime pañca dhammā therassa bhikkhuno saṁvijjanti, tasmā taṁ sabrahmacārī sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjentī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Good, good, Upavāṇa! A senior mendicant with these five qualities is dear and beloved to their spiritual companions, respected and admired. If these five qualities are not found in a senior mendicant, why would their spiritual companions honor, respect, revere, or venerate them? Because of their broken teeth, gray hair, and wrinkled skin? But since these five qualities are found in a senior mendicant, their spiritual companions honor, respect, revere, or venerate them.”
“Lành thay, lành thay, Upavāṇa! Này Upavāṇa, chính do năm pháp này mà vị trưởng lão tỳ khưu được các vị đồng phạm hạnh yêu mến, khả ý, đáng kính trọng, và đáng được tán dương. Này Upavāṇa, nếu năm pháp này không có ở vị trưởng lão tỳ khưu, thì các vị đồng phạm hạnh sẽ không tôn trọng, không kính nể, không quý mến, không cúng dường vị ấy chỉ vì răng rụng, tóc bạc, da nhăn. Và này Upavāṇa, chính vì năm pháp này có ở vị trưởng lão tỳ khưu, nên các vị đồng phạm hạnh tôn trọng, kính nể, quý mến, và cúng dường vị ấy.” Hết phẩm thứ sáu.