- Aṅguttara Nikāya 5.134
- 14. Rājavagga
Bản dịch
AN 5.134 — Tại Mỗi Phương Hướng
Yassaṁdisaṁsutta
TTC 1—Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sống tại phương hướng nào, vị ấy sống trong lĩnh vực mình chiếm đoạt được. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh; là nhà giàu có, đại phú, sung túc tài sản, ngân khố, kho lúa sung mãn; có uy lực, đầy đủ bốn loại binh chủng trung thành và sẵn sàng tuân lệnh. Vị tư lệnh là bậc Hiền trí, tinh luyện, sáng suốt và có suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại. Và bốn pháp này khiến danh xưng vị ấy được chín muồi. Thành tựu với pháp danh xưng thứ năm này, tại phương hướng nào vị ấy trú ở, vị ấy sống trong lãnh vực mình chiếm đoạt được. Vì sao? Vì như vậy là địa hạt của những người thắng trận.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, Tỷ-kheo sống tại phương hướng nào, vị ấy sống với tâm giải thoát. Thế nào là năm?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, chấp nhận, và học tập trong các học pháp. Như vậy giống như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đầy đủ về thọ sanh. Vị ấy là bậc nghe nhiều, thọ trì điều được nghe, tích tập điều được nghe, đối với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, đối với các pháp như vậy được nghe nhiều, được thọ trì, được ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quan sát, khéo thể nhập nhờ chánh kiến. Giống như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, giàu có, đại phú, sung túc tài sản, ngân khố, kho lúa sung mãn, sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Giống như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đầy đủ uy lực, có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập thuộc bậc Thánh vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Giống như vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đầy đủ với vị tư lệnh. Bốn pháp này khiến sự giải thoát của vị ấy được chín muồi. Thành tựu với pháp giải thoát thứ năm này, vị ấy trú tại phương hướng nào, vị ấy trú với tâm giải thoát. Vì sao? Vì như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là (địa hạt) của những tâm giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.134
- 14. Kings
In Whatever Region
4. Kinh Yassaṃdisaṃ (Phương Hướng Nào)
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rājā khattiyo muddhāvasitto yassaṁ yassaṁ disāyaṁ viharati, sakasmiṁyeva vijite viharati.
“Mendicants, with five factors an anointed aristocratic king lives in his own realm, no matter what region he lives in.
134. Này các bhikkhu, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, người được trang bị năm yếu tố, dù trú ở phương hướng nào, vị ấy vẫn được xem là trú trong lãnh thổ của chính mình.
Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, rājā khattiyo muddhāvasitto ubhato sujāto hoti mātito ca pitito ca, saṁsuddhagahaṇiko, yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena;
aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro;
balavā kho pana hoti caturaṅginiyā senāya samannāgato assavāya ovādapaṭikarāya;
pariṇāyako kho panassa hoti paṇḍito viyatto medhāvī paṭibalo atītānāgatapaccuppanne atthe cintetuṁ;
tassime cattāro dhammā yasaṁ paripācenti.
So iminā yasapañcamena dhammena samannāgato yassaṁ yassaṁ disāyaṁ viharati, sakasmiṁyeva vijite viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti vijitāvīnaṁ.
What five?
An anointed aristocratic king is well born on both his mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation.
He is rich, affluent, and wealthy, with a full treasury and storehouses.
He is powerful, having an army of four divisions that is obedient and carries out instructions.
He has a commander who is astute, competent, and intelligent, able to think issues through as they bear upon the past, future, and present.
These four things bring his glory to fruition.
With these five qualities, including glory, an anointed aristocratic king lives in his own realm, no matter what direction he lives in. Why is that? Because that is how it is for victors.
Năm yếu tố nào? Này các bhikkhu, ở đây, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có dòng dõi trong sạch từ cả hai phía, từ bên mẹ và bên cha, có huyết thống thuần khiết cho đến bảy đời tổ tiên, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt dòng dõi; vị ấy giàu có, nhiều tài sản, nhiều của cải, kho tàng và vựa lúa đầy ắp; lại nữa, vị ấy có sức mạnh, được trang bị bốn binh chủng quân đội biết vâng lời và tuân theo mệnh lệnh; và vị thái tử của vị ấy là người thông thái, khôn khéo, trí tuệ, có khả năng suy xét các vấn đề trong quá khứ, tương lai và hiện tại; bốn pháp này làm cho danh tiếng của vị ấy được viên mãn. Vị ấy, được trang bị pháp thứ năm là danh tiếng này, dù trú ở phương hướng nào, vẫn được xem là trú trong lãnh thổ của chính mình. Vì sao vậy? Này các bhikkhu, đối với những người chiến thắng, sự việc là như vậy.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu yassaṁ yassaṁ disāyaṁ viharati, vimuttacittova viharati. Katamehi pañcahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu—rājāva khattiyo muddhāvasitto jātisampanno;
bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā—rājāva khattiyo muddhāvasitto aḍḍho mahaddhano mahābhogo paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro;
āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu—rājāva khattiyo muddhāvasitto balasampanno;
paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā—rājāva khattiyo muddhāvasitto pariṇāyakasampanno;
tassime cattāro dhammā vimuttiṁ paripācenti.
So iminā vimuttipañcamena dhammena samannāgato yassaṁ yassaṁ disāyaṁ viharati vimuttacittova viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, bhikkhave, hoti vimuttacittānan”ti.
Catutthaṁ.
In the same way, a mendicant with five qualities lives with mind freed, no matter what region they live in. What five?
It’s when mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is like the anointed aristocratic king’s impeccable birth.
They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. This is like the anointed aristocratic king being rich, affluent, and wealthy, with full treasury and storehouses.
They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. This is like the anointed aristocratic king having power.
They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is like the anointed aristocratic king having a commander.
These four qualities bring their freedom to fruition.
With these five qualities, including freedom, they live in their own realm, no matter what region they live in. Why is that? Because that is how it is for those whose mind is free.”
“Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, vị tỳ khưu hội đủ năm pháp, dù trú ở phương hướng nào, vị ấy trú với tâm giải thoát. Năm pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có giới hạnh, trú với sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới – giống như vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có dòng dõi cao quý; vị ấy là người đa văn, ghi nhớ những điều đã nghe, tích lũy những điều đã nghe. Những pháp ấy toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thực hành bằng lời, quán xét bằng ý, và khéo thông đạt bằng trí tuệ – giống như vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, giàu có, nhiều tài sản, nhiều của cải, có kho tàng và vựa lúa đầy ắp; vị ấy trú với tinh tấn đã được khởi sự để từ bỏ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, có nghị lực, kiên trì nỗ lực, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện – giống như vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có lực lượng hùng mạnh; vị ấy có trí tuệ, hội đủ trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng xuyên thủng, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh – giống như vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có người kế vị tài giỏi; bốn pháp này của vị ấy làm cho sự giải thoát được chín muồi. Vị ấy, hội đủ pháp thứ năm là sự giải thoát này, dù trú ở phương hướng nào, vị ấy trú với tâm giải thoát. Điều ấy vì lý do gì? Này các tỳ khưu, đối với những vị có tâm giải thoát thì sự việc là như vậy.” Hết phẩm thứ tư.