- Aṅguttara Nikāya 5.133
- 14. Rājavagga
Bản dịch
AN 5.133 — Chuyển Luân Vương (3)
Dhammarājāsutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, ai là vua Chuyển Luân đúng pháp pháp vương, vị ấy chuyển vận bánh xe không phải không thuộc của vua.
Khi nghe nói vậy, một vị Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, ai là vua cho vua Chuyển Luân đúng pháp pháp vương?
—Chính là pháp, này Tỷ-kheo.
Thế Tôn nói vậy.
TTC 2—Ở đây, này Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng. Vị này sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho dân chúng trong nước.
TTC 3Lại nữa, này Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng. Vị này sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho các Sát-đế-lỵ, tùy hành, cho quân đội, cho các Bà-la-môn gia chủ, cho dân chúng thị trấn và quốc độ, cho các Sa-môn, Bà-la-môn, cho các loài thú và loài chim.
Như vậy, này Tỷ-kheo, vua Chuyển Luân đúng pháp pháp vương ấy, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng, sau khi sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho dân chúng trong nước. Sau khi sắp đặt một sự phòng hộ bảo vệ, chế ngự đúng pháp cho các Sát-đế-lỵ, tùy tùng, cho quân đội, cho các Bà-la-môn gia chủ, cho dân chúng thị trấn và quốc độ, cho các Sa-môn, Bà-la-môn, cho các loài thú và loài chim, vị ấy chuyển vận bánh xe với pháp; bánh xe ấy, không một bàn tay ai có thể chuyển ngược lại dầu là con của người thù địch.
Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng, sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp giữa các hàng Tỷ kheo: Thân nghiệp như vậy cần phải thực hành, thân nghiệp như vậy không nên thực hành; khẩu nghiệp như vậy cần phải thực hành, khẩu nghiệp như vậy không nên thực hành; ý nghiệp như vậy cần phải thực hành, ý nghiệp như vậy không nên thực hành; mạng sống như vậy cần phải thực hành, mạng sống như vậy không nên thực hành; làng, thị trấn như vậy cần phải đi đến; làng, thị trấn như vậy không nên đi đến.
TTC 4Lại nữa, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng, sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp giữa các Tỷ-kheo, giữa các Tỷ-kheo-ni, giữa các nam cư sĩ, giữa các nữ cư sĩ: Thân nghiệp như vậy cần phải thực hành, thân nghiệp như vậy không nên thực hành; khẩu nghiệp như vậy cần phải thực hành, khẩu nghiệp như vậy không nên thực hành; ý nghiệp như vậy cần phải thực hành, ý nghiệp như vậy không nên thực hành; mạng sống như vậy cần phải thực hành, mạng sống như vậy không nên thực hành; làng, thị trấn như vậy cần phải đi đến; làng, thị trấn như vậy không nên đi đến.
Như vậy, này Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đúng pháp pháp vương, y cứ pháp, tôn kính pháp, kính trọng pháp, tôn trọng pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tăng thượng, sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp giữa các Tỷ-kheo, sau khi sắp đặt một sự phòng hộ, bảo vệ, chế ngự đúng pháp giữa các Tỷ-kheo ni, sau khi sắp đặt một sự bảo vệ, phòng hộ đúng pháp giữa các nam cư sĩ, sau khi sắp đặt một sự bảo vệ, phòng hộ đúng pháp giữa các nữ cư sĩ, Như Lai làm cho chuyển vận Vô thượng pháp luân với pháp, bánh xe ấy không một Sa-môn hay Bà-la-môn, Thiên Ma hay Phạm thiên, hay bất cứ ai ở đời có thể chuyển ngược lại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.133
- 14. Kings
A Principled King
3. Kinh Pháp Vương
“Yopi so, bhikkhave, rājā cakkavattī dhammiko dhammarājā, sopi na arājakaṁ cakkaṁ vattetī”ti.
Evaṁ vutte aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ko pana, bhante, rañño cakkavattissa dhammikassa dhammarañño rājā”ti?
“Dhammo, bhikkhū”ti bhagavā avoca.
“Mendicants, even a wheel-turning monarch, a just and principled king, does not wield power without having their own king.”
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “But who is the king of the wheel-turning monarch, the just and principled king?”
“It is principle, monk,” said the Buddha.
133. Này các Tỳ khưu, vị vua Chuyển luân nào là vị vua đúng pháp, là Pháp vương, vị ấy cũng không chuyển vận bánh xe mà không có vua (của mình). Khi được nói như vậy, một Tỳ khưu nọ bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, vậy ai là vua của vị vua Chuyển luân, vị vua đúng pháp, vị Pháp vương?’ Thế Tôn trả lời: ‘Này Tỳ khưu, chính là Pháp.’
“Idha, bhikkhu, rājā cakkavattī dhammiko dhammarājā dhammaññeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati antojanasmiṁ.
“Monk, a wheel-turning monarch provides just protection and security for his court, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as his flag, banner, and authority.
Này bhikkhu, ở đây, vị vua Chuyển Luân Vương, là người đúng Pháp, là Pháp vương, chỉ nương tựa vào Pháp, tôn trọng Pháp, quý trọng Pháp, cung kính Pháp, lấy Pháp làm cờ xí, lấy Pháp làm biểu tượng, lấy Pháp làm chủ tể, sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho những người trong nội cung.
Puna caparaṁ, bhikkhu, rājā cakkavattī dhammiko dhammarājā dhammaññeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati khattiyesu anuyantesu …pe… balakāyasmiṁ brāhmaṇagahapatikesu negamajānapadesu samaṇabrāhmaṇesu migapakkhīsu. Sa kho so, bhikkhu, rājā cakkavattī dhammiko dhammarājā dhammaññeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahitvā antojanasmiṁ dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahitvā khattiyesu anuyantesu balakāyasmiṁ brāhmaṇagahapatikesu negamajānapadesu samaṇabrāhmaṇesu migapakkhīsu dhammeneva cakkaṁ pavatteti; taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ kenaci manussabhūtena paccatthikena pāṇinā.
He provides just protection and security for his aristocrats, vassals, troops, brahmins and householders, people of town and country, ascetics and brahmins, beasts and birds. When he has done this, he wields power only in a principled manner. And this power cannot be undermined by any human enemy.
Lại nữa, này bhikkhu, vị vua Chuyển Luân Vương, là người đúng Pháp, là Pháp vương, chỉ nương tựa vào Pháp, tôn trọng Pháp, quý trọng Pháp, cung kính Pháp, lấy Pháp làm cờ xí, lấy Pháp làm biểu tượng, lấy Pháp làm chủ tể, sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị vua Sát-đế-lỵ và tùy tùng, ... cho quân đội, cho các vị Bà-la-môn và gia chủ, cho dân chúng ở thành thị và thôn quê, cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn, cho các loài thú và chim. Này bhikkhu, chính vị vua Chuyển Luân Vương ấy, là người đúng Pháp, là Pháp vương, chỉ nương tựa vào Pháp, tôn trọng Pháp, quý trọng Pháp, cung kính Pháp, lấy Pháp làm cờ xí, lấy Pháp làm biểu tượng, lấy Pháp làm chủ tể, sau khi đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho những người trong nội cung, sau khi đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị vua Sát-đế-lỵ và tùy tùng, cho quân đội, cho các vị Bà-la-môn và gia chủ, cho dân chúng ở thành thị và thôn quê, cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn, cho các loài thú và chim, vị ấy chuyển vận bánh xe chỉ bằng Pháp; bánh xe ấy không thể bị xoay ngược lại bởi bất cứ chúng sanh nào là con người, là kẻ thù địch.
Evamevaṁ kho, bhikkhu, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammiko dhammarājā dhammaññeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati bhikkhūsu: ‘evarūpaṁ kāyakammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ kāyakammaṁ na sevitabbaṁ; evarūpaṁ vacīkammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ vacīkammaṁ na sevitabbaṁ; evarūpaṁ manokammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ manokammaṁ na sevitabbaṁ; evarūpo ājīvo sevitabbo, evarūpo ājīvo na sevitabbo; evarūpo gāmanigamo sevitabbo, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo’ti.
In the same way, monk, a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, a just and principled king, provides just protection and security for the monks, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as his flag, banner, and authority. ‘This kind of bodily action should be cultivated. This kind of bodily action should not be cultivated. This kind of verbal action should be cultivated. This kind of verbal action should not be cultivated. This kind of mental action should be cultivated. This kind of mental action should not be cultivated. This kind of livelihood should be cultivated. This kind of livelihood should not be cultivated. This kind of village or town should be cultivated. This kind of village or town should not be cultivated.’
Cũng vậy, này bhikkhu, đấng Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, là người đúng Pháp, là Pháp vương, chỉ nương tựa vào Pháp, tôn trọng Pháp, quý trọng Pháp, cung kính Pháp, lấy Pháp làm cờ xí, lấy Pháp làm biểu tượng, lấy Pháp làm chủ tể, sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị bhikkhu rằng: ‘Thân nghiệp như thế này nên thực hành, thân nghiệp như thế này không nên thực hành; khẩu nghiệp như thế này nên thực hành, khẩu nghiệp như thế này không nên thực hành; ý nghiệp như thế này nên thực hành, ý nghiệp như thế này không nên thực hành; sinh kế như thế này nên thực hành, sinh kế như thế này không nên thực hành; làng mạc thị tứ như thế này nên lui tới, làng mạc thị tứ như thế này không nên lui tới’.
Puna caparaṁ, bhikkhu, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammiko dhammarājā dhammaññeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahati bhikkhunīsu …pe… upāsakesu …pe… upāsikāsu: ‘evarūpaṁ kāyakammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ kāyakammaṁ na sevitabbaṁ; evarūpaṁ vacīkammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ vacīkammaṁ na sevitabbaṁ; evarūpaṁ manokammaṁ sevitabbaṁ, evarūpaṁ manokammaṁ na sevitabbaṁ; evarūpo ājīvo sevitabbo, evarūpo ājīvo na sevitabbo; evarūpo gāmanigamo sevitabbo, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo’ti.
In the same way, monk, a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, a just and principled king, provides just protection and security for the nuns … laymen … laywomen, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as his flag, banner, and authority. ‘This kind of bodily action should be cultivated. This kind of bodily action should not be cultivated. This kind of verbal action should be cultivated. This kind of verbal action should not be cultivated. This kind of mental action should be cultivated. This kind of mental action should not be cultivated. This kind of livelihood should be cultivated. This kind of livelihood should not be cultivated. This kind of village or town should be cultivated. This kind of village or town should not be cultivated.’
Lại nữa, này bhikkhu, đấng Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, là người đúng Pháp, là Pháp vương, chỉ nương tựa vào Pháp, tôn trọng Pháp, quý trọng Pháp, cung kính Pháp, lấy Pháp làm cờ xí, lấy Pháp làm biểu tượng, lấy Pháp làm chủ tể, sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị bhikkhunī, ... cho các vị upāsaka, ... cho các vị upāsikā rằng: ‘Thân nghiệp như thế này nên thực hành, thân nghiệp như thế này không nên thực hành; khẩu nghiệp như thế này nên thực hành, khẩu nghiệp như thế này không nên thực hành; ý nghiệp như thế này nên thực hành, ý nghiệp như thế này không nên thực hành; sinh kế như thế này nên thực hành, sinh kế như thế này không nên thực hành; làng mạc thị tứ như thế này nên lui tới, làng mạc thị tứ như thế này không nên lui tới’.
Sa kho so, bhikkhu, tathāgato arahaṁ sammāsambuddho dhammiko dhammarājā dhammaññeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahitvā bhikkhūsu, dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahitvā bhikkhunīsu, dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahitvā upāsakesu, dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahitvā upāsikāsu dhammeneva anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti; taṁ hoti cakkaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
Tatiyaṁ.
When a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha has provided just protection and security for the monks, nuns, laymen, and laywomen, he rolls forth the supreme Wheel of Dhamma only in a principled manner. And that wheel cannot be rolled back by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.”
Này bhikkhu, chính đấng Như Lai ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, là người đúng Pháp, là Pháp vương, chỉ nương tựa vào Pháp, tôn trọng Pháp, quý trọng Pháp, cung kính Pháp, lấy Pháp làm cờ xí, lấy Pháp làm biểu tượng, lấy Pháp làm chủ tể, sau khi đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị bhikkhu, sau khi đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị bhikkhunī, sau khi đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị upāsaka, sau khi đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Pháp cho các vị upāsikā, Ngài chuyển vận bánh xe Pháp vô thượng chỉ bằng Pháp; bánh xe ấy không thể bị xoay ngược lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai trong thế gian. Dứt phẩm thứ ba.