- Aṅguttara Nikāya 4.94
- 10. Asuravagga
Bản dịch
AN 4.94 — Thiền Ðịnh
Tatiyasamādhisutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chứng được nội tâm chỉ, không chứng được tăng thượng tuệ pháp quán. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chứng được tăng thượng tuệ pháp quán, không chứng được nội tâm chỉ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không chứng được nội tâm chỉ, không chứng được tăng thượng tuệ pháp quán. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chứng được nội tâm chỉ, chứng được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 2Tại đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này chứng được nội tâm chỉ… (xem 93, 2). Sau khi đi đến hạng người chứng được tăng thượng tuệ pháp quán, người này cần phải nói như sau: “Thưa Hiền giả, các hành cần phải thấy thế nào, các hành cần phải biết thế nào, các hành cần phải quán thế nào?”. Người ấy trả lời cho vị này: “Như đã được thấy, như đã được biết, như vậy, này Hiền giả, các hành cần phải được thấy; như vậy, các hành cần phải được biết; như vậy, các hành cần phải quán”. Vị này sau một thời gian, chứng được nội tâm chỉ, chứng được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 3Tại đấy, này các Tỷ-kheo, hạng người này chứng được tăng thượng tuệ pháp quán, không chứng được nội tâm chỉ. Người này sau khi đi đến hạng người chứng được nội tâm chỉ này, cần phải nói như sau: “Thưa Hiền giả, tâm cần phải an lập thế nào? Tâm cần phải an trú thế nào. Tâm cần phải nhứt tâm thế nào? Tâm cần phải định tĩnh thế nào? Người ấy trả lời cho vị này: “Như đã được thấy, như đã được biết, như vậy, thưa Hiền giả, tâm cần phải an lập; như vậy, tâm cần phải an trú; như vậy, tâm cần phải nhứt tâm; như vậy, tâm cần phải định tĩnh.” Vị ấy sau một thời gian, chứng được tăng thượng tuệ pháp quán, chứng được nội tâm chỉ.
TTC 4Tại đấy, này các Tỷ-kheo, hạng người này không chứng được nội tâm chỉ, không chứng được tăng thượng tuệ pháp quán. Người này, này các Tỷ-kheo, sau khi đi đến hạng người chứng nội tâm chỉ, chứng được tăng thượng tuệ pháp quán, người này cần phải nói như sau: “Thưa Hiền giả, tâm cần phải an lập thế nào? Tâm cần phải an trú thế nào? Tâm cần phải nhứt tâm thế nào? Tâm cần phải định tĩnh thế nào? Các hành cần phải thấy thế nào? Các hành cần phải biết thế nào? Các hành cần phải quán thế nào?” Người ấy trả lời cho vị này: “Như đã được thấy, như đã được biết, như vậy, này Hiền giả, tâm cần phải an lập; như vậy, tâm cần phải an trú. Như vậy, tâm cần phải nhứt tâm; như vậy, tâm cần phải định tĩnh; như vậy, các hành cần phải thấy; như vậy, các hành cần phải biết; như vậy, các hành cần phải quán”. Vị ấy, sau một thời gian chứng được nội tâm chỉ, chứng được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 5Tại đấy, này các Tỷ-kheo, hạng người này chứng được nội tâm chỉ, chứng được tăng thượng tuệ pháp quán. Vị này, này các Tỷ-kheo, sau khi an trú trong các thiện pháp, cần phải tu tập chú tâm vào sự đoạn diệt các lậu hoặc.
Này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này có mặt hiện hữu ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.94
- 10. Titans
Immersion (3rd)
4. Kinh Định Thứ Ba
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo lābhī hoti ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāya. Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo lābhī hoti adhipaññādhammavipassanāya, na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa. Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo na ceva lābhī hoti ajjhattaṁ cetosamathassa na ca lābhī adhipaññādhammavipassanāya. Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
“Mendicants, these four individuals are found in the world. What four?
One individual has internal serenity of heart, but not the higher wisdom of discernment of principles. One individual has the higher wisdom of discernment of principles, but not internal serenity of heart. One individual has neither internal serenity of heart, nor the higher wisdom of discernment of principles. One individual has both internal serenity of heart, and the higher wisdom of discernment of principles.
94. Này các Tỳ khưu, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt trong thế gian. Bốn hạng nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người chứng đắc nội tâm chỉ, nhưng không chứng đắc tuệ quán các pháp thù thắng. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người chứng đắc tuệ quán các pháp thù thắng, nhưng không chứng đắc nội tâm chỉ. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không chứng đắc cả nội tâm chỉ lẫn tuệ quán các pháp thù thắng. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người chứng đắc cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp thù thắng.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa na lābhī adhipaññādhammavipassanāya, tena, bhikkhave, puggalena yvāyaṁ puggalo lābhī adhipaññādhammavipassanāya so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo: ‘kathaṁ nu kho, āvuso, saṅkhārā daṭṭhabbā? Kathaṁ saṅkhārā sammasitabbā? Kathaṁ saṅkhārā vipassitabbā’ti? Tassa so yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ byākaroti: ‘evaṁ kho, āvuso, saṅkhārā daṭṭhabbā, evaṁ saṅkhārā sammasitabbā, evaṁ saṅkhārā vipassitabbā’ti. So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
As for the individual who has serenity but not discernment: they should approach someone who has discernment and ask: ‘Reverend, how should conditions be seen? How should they be comprehended? How should they be discerned?’ They would answer from their own experience: ‘This is how conditions should be seen, comprehended, and discerned.’ After some time they have both serenity and discernment.
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, hạng người nào đã chứng đắc nội tâm chỉ, nhưng chưa chứng đắc tuệ quán các pháp thù thắng, này các Tỳ khưu, hạng người ấy nên đến gần hạng người đã chứng đắc tuệ quán các pháp thù thắng và nên nói như sau: ‘Thưa hiền giả, làm thế nào để thấy các pháp hành? Làm thế nào để thẩm sát các pháp hành? Làm thế nào để quán chiếu các pháp hành?’ Vị kia sẽ giải thích cho vị ấy theo như đã thấy, theo như đã biết: ‘Thưa hiền giả, các pháp hành nên được thấy như thế này, các pháp hành nên được thẩm sát như thế này, các pháp hành nên được quán chiếu như thế này.’ Về sau, vị ấy sẽ chứng đắc cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp thù thắng.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo lābhī adhipaññādhammavipassanāya na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, tena, bhikkhave, puggalena yvāyaṁ puggalo lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo: ‘kathaṁ nu kho, āvuso, cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ? Kathaṁ cittaṁ sannisādetabbaṁ? Kathaṁ cittaṁ ekodi kātabbaṁ? Kathaṁ cittaṁ samādahātabban’ti? Tassa so yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ byākaroti: ‘evaṁ kho, āvuso, cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ, evaṁ cittaṁ sannisādetabbaṁ, evaṁ cittaṁ ekodi kātabbaṁ, evaṁ cittaṁ samādahātabban’ti. So aparena samaye lābhī ceva hoti adhipaññādhammavipassanāya lābhī ca ajjhattaṁ cetosamathassa.
As for the individual who has discernment but not serenity: they should approach someone who has serenity and ask: ‘Reverend, how should the mind be stilled? How should it be settled? How should it be unified? How should it be immersed in samādhi?’ They would answer from their own experience: ‘Reverend, this is how the mind should be stilled, settled, unified, and immersed in samādhi.’ After some time they have both discernment and serenity.
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, hạng người nào đã chứng đắc tuệ quán các pháp thù thắng, nhưng chưa chứng đắc nội tâm chỉ, này các Tỳ khưu, hạng người ấy nên đến gần hạng người đã chứng đắc nội tâm chỉ và nên nói như sau: ‘Thưa hiền giả, làm thế nào để an trú tâm? Làm thế nào để lắng dịu tâm? Làm thế nào để nhất tâm? Làm thế nào để định tâm?’ Vị kia sẽ giải thích cho vị ấy theo như đã thấy, theo như đã biết: ‘Thưa hiền giả, tâm nên được an trú như thế này, tâm nên được lắng dịu như thế này, tâm nên được nhất tâm như thế này, tâm nên được định tâm như thế này.’ Về sau, vị ấy sẽ chứng đắc cả tuệ quán các pháp thù thắng và nội tâm chỉ.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo na ceva lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa na ca lābhī adhipaññādhammavipassanāya, tena, bhikkhave, puggalena yvāyaṁ puggalo lābhī ceva ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo: ‘kathaṁ nu kho, āvuso, cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ? Kathaṁ cittaṁ sannisādetabbaṁ? Kathaṁ cittaṁ ekodi kātabbaṁ? Kathaṁ cittaṁ samādahātabbaṁ? Kathaṁ saṅkhārā daṭṭhabbā? Kathaṁ saṅkhārā sammasitabbā? Kathaṁ saṅkhārā vipassitabbā’ti? Tassa so yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ byākaroti: ‘evaṁ kho, āvuso, cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ, evaṁ cittaṁ sannisādetabbaṁ, evaṁ cittaṁ ekodi kātabbaṁ, evaṁ cittaṁ samādahātabbaṁ, evaṁ saṅkhārā daṭṭhabbā, evaṁ saṅkhārā sammasitabbā, evaṁ saṅkhārā vipassitabbā’ti. So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
As for the individual who has neither serenity nor discernment: they should approach someone who has serenity and discernment and ask: ‘Reverend, how should the mind be stilled? How should it be settled? How should it be unified? How should it be immersed in samādhi?’ How should conditions be seen? How should they be comprehended? How should they be discerned?’ They would answer as they’ve seen and known: ‘Reverend, this is how the mind should be stilled, settled, unified, and immersed in samādhi. And this is how conditions should be seen, comprehended, and discerned.’ After some time they have both serenity and discernment.
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, hạng người không chứng đắc nội tâm chỉ, cũng không chứng đắc tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, này các Tỳ khưu, hạng người ấy nên đến gần hạng người chứng đắc cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, và nên hỏi như sau: ‘Thưa hiền giả, làm thế nào để an lập tâm? Làm thế nào để lắng dịu tâm? Làm thế nào để nhất tâm? Làm thế nào để định tâm? Làm thế nào để thấy các hành? Làm thế nào để thẩm sát các hành? Làm thế nào để quán các hành?’ Vị kia sẽ giải thích cho người ấy theo như đã thấy, theo như đã biết: ‘Thưa hiền giả, như thế này để an lập tâm, như thế này để lắng dịu tâm, như thế này để nhất tâm, như thế này để định tâm, như thế này để thấy các hành, như thế này để thẩm sát các hành, như thế này để quán các hành.’ Rồi một thời gian sau, người ấy chứng đắc cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya, tena, bhikkhave, puggalena tesu ceva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Catutthaṁ.
As for the individual who has both serenity and discernment: grounded on those skillful qualities, they should practice meditation further to end the defilements.
These are the four individuals found in the world.”
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, hạng người chứng đắc cả nội tâm chỉ và tuệ quán các pháp thuộc tăng thượng, này các Tỳ khưu, hạng người ấy, sau khi an trú trong chính các thiện pháp ấy, cần phải nỗ lực hơn nữa để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỳ khưu, bốn hạng người này hiện có, hiện hữu trên đời. Hết kinh thứ tư.