- Aṅguttara Nikāya 4.47
- 5. Rohitassavagga
Bản dịch
AN 4.47 — Rất Xa Xăm
Suvidūrasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỷ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau. Bờ biển bên này, này các Tỷ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỷ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau. Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỷ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỷ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này.
Rất xa là bầu trời,
Cũng rất xa, quả đất,
Người ta nói rất xa,
Là bờ biển bên kia.
Từ chỗ mặt trời mọc,
Chói sáng, tỏa ánh sáng,
Ðến chỗ mặt trời lặn.
Rằng xa, thật là xa,
Người ta nói xa hơn,
Là pháp của bậc thiện,
Với pháp kẻ bất thiện,
Thật xa, xa hơn nhiều.
Hòa hợp với bậc thiện,
Thường hằng, không hoại diệt,
Khi nào còn đứng vững,
Vẫn như vậy kiên trì,
Còn hòa hợp bất thiện,
Rất mau bị phá hoại,
Do vậy pháp bậc thiện,
Rất xa pháp kẻ ác.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.47
- 5. With Rohitassa
Very Far Apart
7. Kinh Suvidūra (Rất Xa)
“Cattārimāni, bhikkhave, suvidūravidūrāni. Katamāni cattāri? Nabhañca, bhikkhave, pathavī ca; idaṁ paṭhamaṁ suvidūravidūre. Orimañca, bhikkhave, tīraṁ samuddassa pārimañca; idaṁ dutiyaṁ suvidūravidūre. Yato ca, bhikkhave, verocano abbhudeti yattha ca atthameti; idaṁ tatiyaṁ suvidūravidūre. Satañca, bhikkhave, dhammo asatañca dhammo; idaṁ catutthaṁ suvidūravidūre. Imāni kho, bhikkhave, cattāri suvidūravidūrānīti.
“Mendicants, these four things are very far apart. What four? The firmament and the earth. … The near and the far shore of the ocean. … Where the sun rises and where it sets. … The teaching of the virtuous and the teaching of the wicked. … These are the four things very far apart.
47. “Này các Tỳ khưu, có bốn thứ này rất xa nhau. Bốn thứ nào? Này các Tỳ khưu, trời và đất; đây là thứ nhất rất xa nhau. Này các Tỳ khưu, bờ bên này và bờ bên kia của biển; đây là thứ hai rất xa nhau. Này các Tỳ khưu, nơi mặt trời mọc và nơi mặt trời lặn; đây là thứ ba rất xa nhau. Này các Tỳ khưu, Chánh pháp của bậc chân nhân và phi pháp của kẻ bất nhân; đây là thứ tư rất xa nhau. Này các Tỳ khưu, đây là bốn thứ rất xa nhau.”
Nabhañca dūre pathavī ca dūre, Pāraṁ samuddassa tadāhu dūre; Yato ca verocano abbhudeti, Pabhaṅkaro yattha ca atthameti; Tato have dūrataraṁ vadanti, Satañca dhammaṁ asatañca dhammaṁ.
The firmament is far from the earth; they say the other shore of the ocean is far; and where the sun rises is far from where that beacon sets. But even further apart than that, they say, is the teaching of the virtuous from the wicked.
“Trời xa, đất cũng xa, Bờ kia của biển, họ nói là xa. Nơi mặt trời, đấng tạo ánh sáng, mọc lên, Và nơi mặt trời lặn xuống; Họ nói rằng còn xa hơn thế nữa, Là Chánh pháp của bậc chân nhân và phi pháp của kẻ bất nhân.”
Abyāyiko hoti sataṁ samāgamo, Yāvāpi tiṭṭheyya tatheva hoti; Khippañhi veti asataṁ samāgamo, Tasmā sataṁ dhammo asabbhi ārakā”ti.
Sattamaṁ.
The company of the virtuous is reliable; as long as it remains, it stays the same. But the company of the wicked is fickle, and so the teaching of the virtuous <j>is far from the wicked.”
“Sự giao du với bậc chân nhân thì bền vững, tồn tại bao lâu thì vẫn như vậy. Sự giao du với kẻ bất nhân thì mau chóng tan rã. Do vậy, Chánh pháp của bậc chân nhân thì xa cách kẻ bất nhân.”