- Aṅguttara Nikāya 4.48
- 5. Rohitassavagga
Bản dịch
AN 4.48 — Visàkhà
Visākhasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Visàkhà Pancàliputta, trong hội trường với pháp thoại, đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào với ý nghĩa rõ ràng minh bạch, không có ngập ngừng. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ thiền tịnh đứng dậy đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, ai đang thuyết pháp trong hội trường cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch, không có ngập ngừng?
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Visàkhà Pancàliputta đang thuyết pháp trong hội trường cho các Tỷ kheo, khích lệ…. không có ngập ngừng.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Visàkhà Panàliputta:
—Lành thay, lành thay này Visàkhà! Lành thay, này Visàkhà, Thầy đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo… không có ngập ngừng.
Nếu vị ấy không nói,
Chúng không biết vị ấy,
Như vậy bậc Hiền trí,
Lẫn lộn với kẻ ngu,
Nếu vị ấy nói lên,
Chúng biết đến vị ấy,
Khi vị ấy thuyết giảng,
Con đường đến bất tử,
Vậy hãy thuyết giảng lên,
Chói sáng chơn diệu pháp,
Hãy dâng cao ngọn cờ,
Ngọn cờ các ẩn sĩ,
Khéo nói là ngọn cờ,
Của các bậc ẩn sĩ,
Và pháp là ngọn cờ,
Của những bậc ẩn sĩ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.48
- 5. With Rohitassa
With Visākha, Pañcāli’s Son
8. Kinh Visākha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā visākho pañcālaputto upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhū dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti, poriyā vācāya vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā pariyāpannāya anissitāya.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time Venerable Visākha, Pañcāli’s son, was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk. His words were polished, clear, articulate, expressing the meaning, comprehensive, and independent.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants:
48. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Tôn giả Visākha Pañcālaputta ở trong giảng đường, dùng pháp thoại chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu, với lời lẽ tao nhã, trong sáng, không ngập ngừng, làm cho hiểu rõ ý nghĩa, bao trùm (Niết-bàn), không nương tựa (vào sanh hữu). Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống xong, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu:
“Āyasmā, bhante, visākho pañcālaputto upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhū dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti poriyā vācāya vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā pariyāpannāya anissitāyā”ti.
“Sir, it was Venerable Visākha, Pañcāli’s son.”
— Này các Tỳ khưu, ai ở trong giảng đường, dùng pháp thoại chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu, với lời lẽ tao nhã, trong sáng, không ngập ngừng, làm cho hiểu rõ ý nghĩa, bao trùm (Niết-bàn), không nương tựa (vào sanh hữu)? — Bạch Thế Tôn, chính Tôn giả Visākha Pañcālaputta ở trong giảng đường, dùng pháp thoại chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu, với lời lẽ tao nhã, trong sáng, không ngập ngừng, làm cho hiểu rõ ý nghĩa, bao trùm (Niết-bàn), không nương tựa (vào sanh hữu).
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ visākhaṁ pañcālaputtaṁ etadavoca: “sādhu sādhu, visākha. Sādhu kho tvaṁ, visākha, bhikkhū dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi poriyā vācāya vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā pariyāpannāya anissitāyāti.
Then the Buddha said to Visākha, “Good, good, Visākha! It’s good that you educate, encourage, fire up, and inspire the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk, with words that are polished, clear, articulate, expressing the meaning, comprehensive, and independent.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Visākha Pañcālaputta: — Lành thay, lành thay, này Visākha! Thật lành thay, này Visākha, ông đã dùng pháp thoại chỉ dạy, khích lệ, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu, với lời lẽ tao nhã, trong sáng, không ngập ngừng, làm cho hiểu rõ ý nghĩa, bao trùm (Niết-bàn), không nương tựa (vào sanh hữu).
Nābhāsamānaṁ jānanti, missaṁ bālehi paṇḍitaṁ; Bhāsamānañca jānanti, desentaṁ amataṁ padaṁ.
Though an astute person is mixed up with fools, they don’t know unless he speaks. But when he speaks they know, he’s teaching the state free of death.
Người trí ở lẫn kẻ ngu, nếu không nói, ai biết? Chỉ khi nói, thuyết giảng, về đạo bất tử, mới hay.
Bhāsaye jotaye dhammaṁ, paggaṇhe isinaṁ dhajaṁ; Subhāsitadhajā isayo, dhammo hi isinaṁ dhajo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
He should speak and illustrate the teaching, holding up the banner of the seers. Words well spoken are the seers’ banner, for the teaching is the banner of the seers.”
Hãy nói, hãy làm sáng tỏ Chánh pháp, hãy giương cao ngọn cờ của bậc ẩn sĩ. Các bậc ẩn sĩ lấy lời khéo nói làm cờ xí, vì Chánh pháp chính là cờ xí của các bậc ẩn sĩ. (Kinh thứ tám)