- Aṅguttara Nikāya 4.46
- 5. Rohitassavagga
Bản dịch
AN 4.46 — Rohitassa (2)
Dutiyarohitassasutta
TTC 1Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, bảo các Tỷ-kheo:
—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Rohitassa, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Rohitassa bạch với Ta:
“—Tại chỗ nào, bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới?”
Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói với Thiên tử Rohitassa như sau:
“—Này Hiền giả, tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”.
Khi nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên tử Rohitassa nói với Ta như sau:
“—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn; thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn; thật khéo nói, bạch Thế Tôn, lời nói này của Thế Tôn: “Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới!”. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, con là vị ẩn sĩ tên là Rohitassa, con của Bhoja, có thần thông, đi được trên hư không. Tốc độ của con là như thế này, bạch Thế Tôn; ví dụ như một người bắn cung kiên cường, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ có thể dễ dàng bắn xuyên qua bóng một cây ta-la. Bước chân của con là như vậy, như từ khoảng cách từ biển Ðông qua biển Tây. Với con, bạch Thế Tôn, thành tựu được với tốc độ như vậy, với bước chân như vậy, con khởi lên ý muốn như sau: “Với bước chân đi, ta sẽ đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”. Bạch Thế Tôn, trừ khi ăn uống nhai nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức, dầu thọ đến 100 tuổi, dầu đã sống một trăm tuổi, dầu đi đến 100 năm, cũng không có thể đạt được tận cùng của thế giới, nhưng giữa đường con đã chết. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn; thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn; thật là khéo nói, bạch Thế Tôn, lời nói này của Thế Tôn: “Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”.
Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói với Thiên tử Rohitassa:
“-Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: “Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới”. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.
Với đi, không bao giờ,
Ðạt tận cùng thế giới.
Nếu không, không đạt được,
Chỗ tận cùng thế giới,
Thời không có giải thoát,
Ra khỏi ngoài khổ đau.
Do vậy, bậc có trí,
Hiểu biết rõ thế giới,
Ði tận cùng thế giới,
Với Phạm hạnh thành tựu,
Bậc đạt được an tịnh,
Biết tận cùng thế giới,
Không mong cầu đời này,
Không mong cầu đời sau.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.46
- 5. With Rohitassa
With Rohitassa (2nd)
6. Kinh Rohitassa thứ hai
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi: “imaṁ, bhikkhave, rattiṁ rohitasso devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, rohitasso devaputto maṁ etadavoca: ‘yattha nu kho, bhante, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, sakkā nu kho so, bhante, gamanena lokassa anto ñātuṁ vā daṭṭhuṁ vā pāpuṇituṁ vā’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, rohitassaṁ devaputtaṁ etadavocaṁ: ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī’ti. Evaṁ vutte, bhikkhave, rohitasso devaputto maṁ etadavoca: ‘acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitamidaṁ, bhante, bhagavatā—yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmi’.
Then, when the night had passed, the Buddha addressed the mendicants: “Tonight, the glorious godling Rohitassa, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and said to me: ‘Sir, is it possible to know or see or reach the end of the world by traveling to a place where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn?’ …”
46. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, đêm nay, thiên tử Rohitassa, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm sáng rực toàn bộ tu viện Jetavana, đã đến chỗ Ta; sau khi đến, đã đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này các Tỳ khưu, thiên tử Rohitassa đã nói với Ta như sau: ‘Bạch Thế Tôn, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, bạch Thế Tôn, có thể nào bằng cách đi mà biết được, thấy được, hay đạt đến được tận cùng của thế gian ấy không?’ Khi được hỏi vậy, này các Tỳ khưu, Ta đã nói với thiên tử Rohitassa như sau: ‘Này hiền hữu, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, Ta không tuyên bố rằng nơi tận cùng của thế gian ấy có thể được biết, được thấy, được đạt đến bằng cách đi.’ Khi được nói vậy, này các Tỳ khưu, thiên tử Rohitassa đã nói với Ta như sau: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Lời này đã được Thế Tôn khéo nói biết bao: “Này hiền hữu, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, Ta không tuyên bố rằng nơi tận cùng của thế gian ấy có thể được biết, được thấy, được đạt đến bằng cách đi.”’”
Bhūtapubbāhaṁ, bhante, rohitasso nāma isi ahosiṁ bhojaputto iddhimā vehāsaṅgamo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo javo ahosi, seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasirena tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpo padavītihāro ahosi, seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo. Tassa mayhaṁ, bhante, evarūpena javena samannāgatassa evarūpena ca padavītihārena evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji: ‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti. So kho ahaṁ, bhante, aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarāyeva kālaṅkato.
“Bạch Thế Tôn, trong một tiền kiếp, con là một vị ẩn sĩ tên là Rohitassa, con của một vị tù trưởng, có thần thông, đi được trong hư không. Bạch Thế Tôn, tốc độ của con khi ấy nhanh như thế này: ví như một cung thủ mạnh mẽ, thiện xạ, tay nghề điêu luyện, đã được huấn luyện, có thể dễ dàng bắn một mũi tên nhẹ xuyên qua bóng của một cây thốt nốt. Bạch Thế Tôn, sải chân của con khi ấy dài như thế này: ví như khoảng cách từ biển đông đến biển tây. Bạch Thế Tôn, được trang bị với tốc độ như vậy và sải chân như vậy, con đã khởi lên ước muốn như sau: ‘Ta sẽ đi đến tận cùng của thế gian.’ Bạch Thế Tôn, con, với tuổi thọ một trăm năm, sống một trăm năm, đã đi suốt một trăm năm, ngoại trừ thời gian ăn, uống, nhai, nếm, đại tiện, tiểu tiện, ngủ và nghỉ ngơi, nhưng vẫn không đến được tận cùng của thế gian mà đã mệnh chung giữa đường.”
Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitamidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhikkhave, rohitassaṁ devaputtaṁ etadavocaṁ:
“Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Lời này đã được Thế Tôn khéo nói biết bao: ‘Này hiền hữu, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, Ta không tuyên bố rằng nơi tận cùng của thế gian ấy có thể được biết, được thấy, được đạt đến bằng cách đi.’ Khi được nói vậy, này các Tỳ khưu, Ta đã nói với thiên tử Rohitassa như sau:
‘Yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṁ, taṁ gamanena lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmī’ti. Na cāhaṁ, āvuso, appatvāva lokassa antaṁ dukkhassantakiriyaṁ vadāmi. Api cāhaṁ, āvuso, imasmiṁyeva byāmamatte kaḷevare sasaññimhi samanake lokañca paññāpemi lokasamudayañca lokanirodhañca lokanirodhagāminiñca paṭipadanti.
“‘Này hiền hữu, nơi nào không sanh, không già, không chết, không diệt, không tái sanh, Ta không tuyên bố rằng nơi tận cùng của thế gian ấy có thể được biết, được thấy, được đạt đến bằng cách đi.’ Và này hiền hữu, Ta cũng không tuyên bố rằng có thể chấm dứt khổ đau mà không đạt đến tận cùng của thế gian. Nhưng này hiền hữu, chính trong tấm thân dài một sải tay này, có tưởng, có tâm, Ta tuyên bố về thế gian, về thế gian tập khởi, về thế gian đoạn diệt, và về con đường đưa đến thế gian đoạn diệt.”
Gamanena na pattabbo, lokassanto kudācanaṁ; Na ca appatvā lokantaṁ, dukkhā atthi pamocanaṁ.
“Không thể nào bằng cách đi, đạt đến tận cùng thế gian; Và không đạt tận cùng thế gian, không thể thoát khỏi khổ đau.”
Tasmā have lokavidū sumedho, Lokantagū vusitabrahmacariyo; Lokassa antaṁ samitāvi ñatvā, Nāsīsatī lokamimaṁ parañcā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Do vậy, bậc trí tuệ, bậc thông hiểu thế gian, bậc đã đến tận cùng thế gian, đã sống đời phạm hạnh, bậc tịch tịnh, sau khi biết được tận cùng của thế gian, không còn mong cầu đời này hay đời sau.”